Bài Nói Chuyện – Tâm Tình Của Người Đã Khuất

BÀI NÓI CHUYỆN
Của thầy Minh Tâm
Trong ngày Đại Tường thầy Tâm Thanh
Hôm nay chúng ta kỷ niệm hai năm của thầy Tâm Thanh vắng bóng, trước hết chúng ta nhớ đến công hạnh và đức tính của thầy Tâm Thanh, có lẽ thầy cũng chẳng cần tôi ca tụng. Thầy Tâm Thanh có những đức tính đặc biệt: Đức tính mà tôi thích nhất đó là kiên định lập trường từ trước như sau, điều này ít có, vì sao? Vốn dĩ tâm vô thường, cảnh vô thường, thế mà thầy vẫn kiên định được lập trường của mình. Ta nhìn vào quá khứ thì thầy Tâm Thanh có phước đức rất lớn từ tiền kiếp, để kiếp này thầy được sinh trưởng trong một gia đình gia giáo, gia đình Chánh Tổng. Từ đó thấy rằng, do tu nhân tích đức trong tiền kiếp mới được như thế, sinh trong gia đình lễ giáo, hấp thụ hai nền văn hóa Tây học và Việt học, hấp thụ nền văn học Tam giáo đồng nguyên cả Nho, Lão và Phật cho nên tiếng Pháp thầy cũng giỏi, tiếng Hán thầy cũng giỏi, đó là phước báo từ trước. Lúc nhỏ được cha mẹ lo ăn học, được sinh hoạt trong tổ chức GĐPT. Là một huynh trưởng nòng cốt của GĐPT/VN. Đến khi ý thức được cuộc đời, ý thức được trách nhiệm đối với dân tộc, với đạo pháp. Thầy xuất gia đầu Phật, được phước báo nữa, gặp Thầy, gặp Tổ, được đi thọ giới, gặp chư tôn túc dạy dỗ nghiêm minh, tạo nên một thầy Tâm Thanh – giảng sư của Viện Hóa Đạo. Một giảng sư, một giáo thọ nổi tiếng, và thầy Tâm Thanh thực hiện bổn phận và chí nguyện mình một cách trọn vẹn. Chỉ nói về GĐPT không thôi, khi đi sinh hoạt với GĐPT, thầy là một huynh trưởng nòng cốt của Quảng Nam Đà Nẵng, khi đi tu thầy luôn luôn nhớ mình là huynh trưởng đã từng phát nguyện đeo Hoa Sen thọ cấp, làm Cố vấn cho các đơn vị, rồi Cố vấn BHD Trung Ương và cho đến khi nhắm mắt, tình của thầy Tâm Thanh đối với GĐPT vẫn không suy chuyển. Một giảng sư trong giảng sư đoàn của Viện Hóa Đạo Giáo hội PGVNTN, trước cũng như sau, vẫn không thay đổi, dù với bao nhiêu khê, khó khăn thầy đều vượt qua, rõ ràng một tấm gương kiên định lập trường minh bạch, không phải chỉ có thế, thầy còn là một nghệ sĩ, một người biết sống, khi vào chùa là một tu sĩ, một thi sĩ, một văn sĩ, nhưng dù văn sĩ, thi sĩ, hay tu sĩ, phong cách thầy Tâm Thanh từ trước đến sau xứng đáng là một kẻ sĩ. Vì thầy sống có nghệ thuật rất cao và từ đó mới được mọi người thương kính, mến yêu, và tâm huyết của thầy đổ ra cho Vĩnh Minh tự viện, một khu rừng núi đá cây cỏ um tùm thế, mà giờ đã trở thành cảnh Già Lam như Vĩnh Minh tự viện này. Quý vị cứ tưởng tượng, trước đây là một cánh rừng hoang cỏ dại mọc đầy, thầy về đây chỉ che một chòi lá để tu. Cái phước đức kéo đến và duyên Phật Pháp lập nên Vĩnh Minh tu viện sừng sững, oai linh giữa rừng núi Đại Ninh. Thầy để lại một sự nghiệp không phải cho thầy, mà cho Phật giáo, cho chúng ta. Hôm nay, thầy Nguyên Hiền và các đệ tử thầy tiếp tục sự nghiệp Thầy Tổ. Như vậy, chúng ta đã thấy thầy Tâm Thanh quả xứng đáng là một giảng sư trong đoàn Phú Lâu Na của Viện Hóa Đạo, quý vị đã thấy gương ngài Phú Lâu Na khi đức Thế Tôn cử đi về xứ độc ác để truyền đạo và thầy Tâm Thanh giữ được tinh thần đó. Thầy Tâm Thanh nằm trong giảng sư đoàn VHĐ, thầy xứng đáng noi gương của Phú Lâu Na, vì chúng tôi biết rõ việc làm của thầy Tâm Thanh. Trong tập kỷ yếu, tôi hết sức vui, thấy Hòa thượng Pháp Chiếu viết vài kỷ niệm khi thầy Tâm Thanh đang còn học Tăng trong Phật Học Viện. Tôi không được cùng thầy Tâm Thanh học một trường, nhưng được cùng làm việc chung, mới thấy được việc làm của thầy. Không những thế, công tác xã hội thầy đã hết mình cho đồng bào, vì dân vì nước. Ở Bảy Hiền làm đường, ở Đại Ninh cũng làm đường, làm cầu. Tính ra tiền thầy lo làm đường đó, thầy tập trung lo tự viện cũng được, ai cấm, ai bắt, thế mà tâm thầy chỉ vì đạo pháp và dân tộc. Thầy vẫn làm tròn bổn phận thiêng liêng của người tu sĩ, “Thượng cầu Phật đạo – Hạ hóa chúng sanh” và thầy đã làm tròn. Hôm nay, về đây đi trên con đường nhựa ai cũng nhớ đến công đức thầy Tâm Thanh. Ai ở thôn Thiện Chí kia, nếu không có thầy Tâm Thanh làm gì có cái cầu treo để qua sông. Vậy thì, tâm nguyện thầy Tâm Thanh không có chút gì riêng tư cả, và thầy sống cho tha nhân.
Do đó, hôm nay kỷ niệm Đại Tường của thầy, mỗi một chúng ta phải tưởng nhớ đến công hạnh của thầy, tưởng nhớ không đủ, mà để noi theo và làm cho tròn bổn phận người con Phật. Ngoài ra, thầy còn một điểm khác, đặc biệt nữa, đó là biết Phật hóa gia đình. Hôm nay ai mà đến tự viện này là thấy ngôi mộ thân phụ của thầy. Lòng hiếu của thầy Tâm Thanh thể hiện khi thân phụ nhắm mắt lìa trần lo chu tất mộ phần xong, ngày ba bữa đều không thiếu. Khi còn sống thầy đã Phật hóa gia đình, khi cha mẹ khuất núi thầy làm tròn bổn phận người con, nhang khói nghiêm túc nêu gương hiếu hạnh. Thầy Tâm Thanh đã thực hiện được tâm hiếu, tức là làm tròn bổn phận người con hiếu. Ngoài ra, người không có lập trường thì gió thổi bên Tây ngả bên Tây, gió thổi bên Đông ngả bên Đông, tức xu thời xu thế, cơ hội chủ nghĩa, leo lên làm ông này bà nọ, quên đi ông bà Tổ Tiên, thì người đó lưu xú chứ không thể lưu danh, thầy Tâm Thanh lưu danh… Thầy Tâm Thanh giảng hay, viết giỏi, tu tốt để hôm nay, có kết quả như chúng ta đã biết. Tôi không dài dòng ca ngợi thầy Tâm Thanh nhưng tôi chỉ xin được nhắc vài điểm trong đời sống của thầy để mỗi một chúng ta, cố gắng bắt chước những nét đẹp của thầy, nhất là môn đồ pháp quyến, phải noi gương Thầy Tổ mà sống làm thế nào cho xứng đáng là đệ tử của thầy. Hôm nay, trong hội trường này, đa phần là huynh trưởng và đoàn sinh GĐPT khắp nơi về đây. Không những bữa nay mà ngay trong đám tang cũng đông, phải chăng gương sáng của thầy Tâm Thanh chiếu rọi trong tâm khảm các BHD, các huynh trưởng, đoàn sinh để cái gương đó mãi mãi còn đọng lại trong tâm khảm của mỗi đoàn sinh, nên đã đến Vĩnh Minh này với niềm thương yêu kính mến. Dịp này tôi xin nói với các anh chị GĐPT vài điều.
Trước hết, xin nói với các anh các chị rằng, thầy Tâm Thanh khi chưa xuất gia là huynh trưởng, khi xuất gia rồi vẫn đến với GĐPT, là vị Cố vấn cho cả GĐPT/VN. Các anh các chị đã về đây trong ngày Tang lễ, Chung Thất, Tiểu Tường đến hôm nay Đại Tường cũng có mặt. Tôi chỉ mong quý anh chị phải kiên định lập trường với tổ chức Áo Lam. Thầy Tâm Thanh đã đứng trong hàng ngũ tu sĩ lập trường của thầy không suy chuyển, lý tưởng Áo Lam vẫn còn trong quả tim của thầy. Trong lúc đó có một số huynh trưởng mặc Áo Lam nhưng đã biến chất ra màu khác chứ không phải màu Lam nữa. Như vậy, nếu có, thì có thấy thẹn lòng hay không? Cho nên tưởng nhớ đến thầy thì các anh chị noi gương thầy Tâm Thanh, mà kiên định lập trường với tổ chức Áo Lam, với Hoa Sen Trắng, đừng biến nó thành màu khác, vì có những huynh trưởng biến Hoa Sen Trắng trên nền xanh lá mạ thành Hoa Sen Vàng trên nền đỏ. Như vậy biến chất từ trong tim biến ra, sai mục đích của GĐPT. Thầy Tâm Thanh năm 1963 là một huynh trưởng từng bị tù tội, từng bị chế độ nhà Ngô đánh đập tàn nhẫn. Thầy vẫn kiên trì chịu đựng, xứng đáng là một huynh trưởng, một tu sĩ. GĐPT đã có những tấm gương ngời sáng như huynh trưởng Phan Duy Trinh, ở đây tôi không biết các anh chị biết huynh trưởng Phan Duy Trinh hay không, phải tìm những tài liệu về anh Trinh để dạy cho các em. Anh là một huynh trưởng đã từng đứng ra cùng quý ôn, quý thầy tổ chức lễ rước Xá Lợi Phật tại Huế, anh là một huynh trưởng năng nổ, một thành viên cốt cán của Giáo hội. Người ta kỳ thị, ganh ghét đến mức, nửa đêm đến bắt Phan Duy Trinh ra ám sát. Ám sát một cách tàn nhẫn bằng những thanh gỗ kiền kiền đập nát thân thể anh. Anh lăn lộn trên một vũng máu trong một đám cỏ rộng gần bốn, năm thước vuông, khi khám phá ra thì thân thể anh chỉ còn là một cái xác bầy nhầy. Hay là huynh trưởng Nguyễn Đại Thức, đuổi theo tướng Huỳnh Văn Cao để bị máy bay bắn chết, bỏ xác tại phi trường Thành Nội Huế. Hay huynh trưởng Đào Thị Yến Phi tự thiêu tại Nha Trang, hay một em Thiếu nữ 17 tuổi, Nguyễn Thị Vân, tự thiêu vì bảo vệ đạo pháp chỉ hai lít xăng không đủ chết. GĐPT đã có những con người hy sinh cho đạo pháp và dân tộc như vậy, dám bỏ thân mình ra làm đuốc bắt chước Thanh Tuệ, Thanh Quang, Diệu Quang, Thiện Mỹ… Bây giờ đây, có huynh trưởng mới thấy khó, thấy trở ngại khó khăn đã trốn tránh, một chút nắng nóng là than, tôi mong các anh các chị phải cố gắng làm thế nào để duy trì được tinh thần GĐPT đối với dân tộc, không phải một ngày, hai ngày, một giờ, hai giờ mà GĐPT có trên 60 năm. GĐPT đào tạo những con người như thầy Tâm Thanh… Tôi cũng huynh trưởng GĐPT, tôi không có cấp Tấn, cấp Dũng như các anh đâu. Nói về cấp thì tôi thua các anh chị xa lắc. Bây giờ lớp anh chị dạy dỗ các em ra sao? Tôi mong là các anh các chị đã có lý tưởng là phải tuyệt đối giữ gìn và theo lý tưởng đó. Như lời một vị tôn túc đã dạy “Nếu chết như cái chết cho chân lý trước bạo lực, chứ không phải cái bạo lực nầy chết vì kém bạo lực khác”, cái chết chân lý trước bạo lực là cái chết vinh quang. Vậy đến với GĐPT mà không được sinh hoạt đi nữa, thà rằng để GĐPT lui về quá khứ mà chết đi trong danh dự, đừng để cho GĐPT chết trong nhục nhã. Nên khi mặc chiếc Áo Lam, phải nhớ đến tinh thần người con Phật, bất khuất trong tinh thần Bi Trí Dũng. Bi là lòng thương, mà thương không đúng là thương hảo, thương huyền – Trí mà không Bi là Trí gian manh, điêu xảo – Dũng không Trí không Bi, Dũng hung bạo, tham tàn. Nên châm ngôn GĐPT chỉ cần 3 chữ thôi, khoan nói 5 điều Luật của ngành Thiếu, 3 điều Luật của ngành Oanh. Ba chữ Bi Trí Dũng anh chị theo suốt cuộc đời cho xứng đáng, cũng đã là vinh dự lắm rồi. Con người sống không có Từ Bi, không có Trí Tuệ, không có Dũng Lực, thì rõ ràng đó là cuộc sống vô bổ, hổ thẹn với tiền nhân. Tôi nói hổ thẹn với tiền nhân là nói hổ thẹn ngay với thầy Tâm Thanh, hổ thẹn với Phan Duy Trinh, hổ thẹn với Nguyễn Đại Thức, với Yến Phi, với Nguyễn Khắc Từ, với Ngô Văn Mão, với Hoàng Thị Kim Cúc, với Lương Hoàng Chuẩn, nhất là hổ thẹn với bác Lê Đình Thám người sáng lập ra tổ chức GĐPT/VN, quý anh chị học là học cho được cái đó đừng bắt chước cái thói hư ngoài đời. Có nhiều em học sinh lớp 11, 12 hỏi về lịch sử Việt Nam, thì không rành không biết, trong khi hỏi về Hoàng Châu Cách Cách, Yến Vy là trả lời thuộc làu, gương Quang Trung, Lê Lợi nói không được bởi không học, hoặc học khơi khơi thật là nguy hiểm, vì thế cho các em đoàn sinh học tiểu sử của Hoàng Thị Kim Cúc, tiểu sử của Lương Hoàng Chuẩn v.v… Tôi còn nhớ anh Lương Hoàng Chuẩn, khi tôi làm Quản sự ở Đại học Vạn Hạnh, anh Lương Hoàng Chuẩn điều hành BHD, lúc bấy giờ không có tiền mua giấy, mà cứ đến văn phòng của Viện, xin từng xấp giấy nho nhỏ về đánh máy gởi đi các tỉnh. Chính vì vậy, tôi thương anh Lương Hoàng Chuẩn, khi anh Cường nghỉ anh Chuẩn làm quyền Trưởng Ban, sau đó anh mất. Bây giờ nhắc đến anh tôi vô cùng cảm kích. Hay anh Thiều tại Huế. Khi mà tôi cùng anh Từ, anh Luyện đi trốn, anh Thiều có một người em là giám đốc ở Đà Nẵng. Anh Thiều được chính quyền Nguyễn Văn Thiệu chú ý đặc biệt, tìm mọi cách gây khó khăn và người em đã ra Huế kéo anh mình vào Đà Nẵng để lo cuộc sống, con người nhỏ ốm đó đã trả lời với em một câu: “Lý tưởng GĐPT tôi đang theo, bây giờ anh em huynh đệ của chúng tôi, người thì bị chết, người thì đang ở tù, người đang chạy trốn, kẻ thì đang bị đày, tôi cũng là một huynh trưởng lại để anh em kẻ bị chết, kẻ bị tù như vậy, mà tìm cuộc sống an ổn cho cá nhân theo chú vào Đà Nẵng, thì chú thấy nhục nhã hay không?”. Và anh thẳng thắn từ chối, để chấp nhận cuộc sống thiếu thốn khó khăn, kể cả vợ con rất khó khăn về vật chất. Đó là những kỷ niệm, tôi nhắc để tất cả anh chị em biết những người cùng trang lứa với chúng tôi khi sinh hoạt GĐPT, cho nên tôi xin tất cả anh chị em hãy nhìn ra ngoài xã hội “Nhà kia lỗi đạo con khinh bố – Mụ nọ chanh chua vợ mắng chồng”. Một xã hội như vậy thì chúng ta phải nỗ lực nhiều hơn để mà xây dựng cho tốt đẹp. Trước đây mấy mươi năm cũng có những cái sai lầm, hạ hết bỏ hết những cái gì cho là phong kiến, cho là quan liêu, những “Tiên học lễ, hậu học văn” ở nhà trường đều cất hết, bỏ đi, đến bây giờ loạn quá rồi, Nhà Nước thức tỉnh, nên dùng lại câu khẩu hiệu: “Tiên học lễ, hậu học văn”, tức là trước học lễ phép, sau mới học văn chương chữ nghĩa, có còn hơn không, muộn còn hơn chẳng làm. Cho nên chúng ta vui để thấy rằng, Nhà Nước đặt vấn đề giáo dục lên trên. Ai đến Thái Lan mới thấy nền giáo dục ở đây. Làm Quốc Vương, làm Thủ Tướng, đều có thọ trì năm giới Pháp, quy y Tam Bảo, vì đã quy y, đã thọ giới thì không phạm vào “sát, đạo, dâm, vọng, tửu”… nên không tham nhũng hối lộ, không tạo việc ác, giết người cuớp của, không đào lổ khoét vách, có như vậy mới làm việc tốt được. Vậy chúng ta khẳng định niềm tin nơi Tam Bảo, phải giữ tín tâm. Tín tâm là lòng tin tha thiết về một vấn đề. Tín tâm là nhân tốt để cho ta thành Phật. Là yếu tố để ta thâm nhập Đại thừa Phật giáo, để chúng ta phát khởi Bồ Đề Tâm. Tín tâm là mẹ đẻ các công đức. Hôm nay thầy trò chúng ta khẳng định là chúng ta phải có tín tâm như thế. Có tín tâm mới tin tưởng lý nhân quả liên quan đến 3 đời: quá khứ – hiện tại và vị lai. Tôi muốn nói với tất cả quý vị là mỗi một chúng ta phải có tín tâm vào Tam Bảo… Tin rằng cuộc sống hiện tại vốn dĩ là vô thường. Hãy xem trận động đất hay một cơn sóng thần vừa rồi, chỉ thời gian ngắn ngủi cướp đi hàng trăm ngàn sinh mạng, đã nói lên điều đó. Người Phật tử phải tin rằng mạng sống là ngắn ngủi chỉ trong hơi thở, thở ra mà hít vào không có là mạng sống chấm dứt. Chúng ta tin rằng các pháp vốn là huyễn hóa, nên chúng ta đừng nên tham đắm, và tin rằng sáu nẻo luân hồi là một luân nạn để chúng ta đi trên con đường giải thoát, muốn giải thoát thì phải thoát ra khỏi sáu nẻo đó. Vì chúng ta có tín tâm và tin tưởng như thế và cũng tin rằng nếu rơi vào ba đường dữ: Ngạ Quỷ – Súc Sanh – Địa Ngục thì khó thoát ra… Nay chúng ta được làm người mà để đọa vào ba đường ác đó thì rất khó thoát ra. Và chúng ta cũng tin tưởng tuyệt đối Phật giáo là đạo giải thoát, muốn thoát khỏi đau khổ thì chỉ có Phật giáo, muốn khỏi si mê, phiền não chỉ có Phật giáo. Chúng ta tin Tam Bảo là ngọn đèn soi sáng hướng dẫn chúng ta đến bờ giải thoát. Tam Bảo là con thuyền Bát Nhã, chỉ có con thuyền Bát Nhã mới đưa ta vượt khỏi biển khổ mênh mông. Quý vị phải tin rằng các pháp do tâm làm chủ cho nên tôi nhắc câu:
“Phật tức Tâm, Phật chứng ở tấm lòng
Tâm tức Phật, lòng thành có Phật”
và:
“Nhất niệm thông tam giới”
Các Phật tử nên tin tưởng rằng tâm chúng ta tạo tác được tất cả. GĐPT muốn giữ vững phải có tâm, chúng ta đến với thầy Tâm Thanh phải có tâm. Chúng ta đi sinh hoạt các đạo tràng phải có tâm. Phải đem tâm đó ra phục vụ. Chỉ đem tâm Phật ra làm việc Phật. Muốn biến nhân gian thành tịnh độ thì cũng chỉ có chúng ta tạo nên tịnh độ giữa Ta Bà này.
Một điều tin tưởng nữa mà chúng ta phải có là tất cả chúng sanh đều có thể thành Phật, kể cả những người xấu ác cũng sẽ thành Phật, những người phản bội, quay lưng với tổ chức cũng có Phật tánh bên trong, chúng ta thương họ, mến họ trong Phật tánh đó. Đa phần chúng ta theo Pháp môn Tịnh độ và tin rằng bản nguyện Phật A Di Đà là bản nguyện chân thật và chúng ta nương tựa vào Ngài khi chúng ta lâm chung để về với Ngài.
Kết thúc buổi nói chuyện hôm nay với các anh các chị và toàn thể Phật tử, xin tất cả hãy đem tín tâm ra mà sống, đem tín tâm ra phục vụ đạo pháp, phục vụ dân tộc và tổ chức. Thiếu tín tâm thì không làm được gì cả. Hãy lấy tín tâm làm căn bản. Đó là điều ước nguyện, tôi tâm tình, chứ không phải là thuyết pháp như Ban Tổ chức đã nói. Tôi không dám làm việc đó mà chỉ trao đổi cho nhau, những gì cần trao nhau để kỷ niệm trong ngày Đại Tường của thầy Tâm Thanh. Thay mặt cho Hòa thượng Tâm Thanh, tôi xin gửi đến toàn thể Phật tử lời cầu chúc chân tình và cầu nguyện Tam Bảo chứng minh và gia hộ cho tất cả được sống an lạc trong hào quang chư Phật.
Nam Mô A Di Đà Phật.
TÂM TÌNH VỚI NGƯỜI ĐÃ KHUẤT
* Ghi lại từ băng nhựa trong lễ Chung Thất thầy Giới Hương
Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật.
Cung kính đảnh lễ Hòa thượng chứng minh.
Cung kính đảnh lễ chư tôn Thượng tọa, Đại đức Tăng.
Xin thay mặt cho Tăng chúng tại tu viện Phật Ân nhân dịp xuân về chúng con xin chúc khánh tuế các Ngài. Chúc các Ngài sống an lạc trong hào quang của chư Phật.
Thưa toàn thể Phật tử,
Đa số các Phật tử hiện diện hôm nay đều là những vị khách chân tình của tu viện, những vị khách không mời mà đến, đối với tấm chân tình, đối với lòng kính mến, thương yêu lẫn nhau, cho nên thầy trò chúng tôi tại tu viện xin đón nhận tấm chân tình đó và xin chúc quý vị một năm an khang để tấn tu đạo nghiệp, có đầy đủ sức khỏe để phục vụ cho quê hương, đất nước, cho gia đình hạnh phúc.
Trong dịp này bổn tự xin được tiếp đón gia đình anh Tuấn, bà cụ mẹ anh Hùng là một Phật tử thuần thành, trong lúc sanh tiền thầy Diệu Đế vào tại tu viện, anh Hùng thường lui tới gặp gỡ nhau và tạo điều kiện để thầy Diệu Đế yên tâm sống với anh em chúng tôi tại đây. Có một điều lạ lùng là cùng ngày, cùng giờ, cùng tháng, cùng năm, thầy Diệu Đế viên tịch tại Huế thì ở Long Thành anh Hùng cũng từ trần. Chắc đó là cái nhân duyên hết sức đặc biệt, sanh tiền thầy Diệu Đế gặp anh Hùng, anh Hùng gặp thầy Diệu Đế để quen nhau, thân nhau. Sự hội ngộ đặc biệt này nên gia đình anh Hùng hôm nay cũng tề tựu tại đây để dự lễ Chung Thất. Gia đình xin ký tự để anh Hùng ở một bên Giác linh thầy Diệu Đế.
Giờ chắc các Ngài cũng không lấy làm lạ là Giác linh của thầy Diệu Đế thờ tại Tổ đường này, bên cạnh là linh ảnh của Thiếu tá Công an Lê Tiến Hùng.
Bây giờ, xin thưa thầy Diệu Đế, xin nói với thầy Giới Hương. Tôi với thầy kết thiện duyên từ khi thầy đang là học Tăng của khóa Liễu Quán và tôi thì đang hành điệu tại Từ Đàm, gặp nhau, mến nhau nhưng chưa thân thiết lắm. “Kiếp xưa ắt có nhân duyên” cho nên khi thầy vào dưỡng bịnh tại Sài Gòn, tôi đến thăm, thầy một mực muốn về ở với Minh Tâm. Lúc bấy giờ, tôi không dám mời thầy đến bởi lẽ tịnh thất tôi chỉ là một mái tranh rách nát, phải nói là chùa cũng chẳng ra chùa, nhà ở cũng chẳng ra cái nhà ở. Đại khái lúc bấy giờ chỉ là một cái chòi giữ rẫy không hơn không kém. Trong đó có Phật, có chúng tôi. Thế mà thầy không ngại gì hết “Minh Tâm ở sao tôi ở vậy, ăn sao tôi ăn vậy, làm sao tôi làm vậy, miễn là có nơi an ổn thì thôi”. Thế là tôi không ngần ngại mời thầy về, mà thầy về thiệt, khi thầy về, cười và nói rằng “Nhà tranh vách đất nhưng mà đây là Tiểu Cực Lạc!”, cái tên Tiểu Cực Lạc là thầy đặt cho tu viện từ đây. Sau đó tu viện mỗi ngày Tăng chúng càng đông, mỗi ngày càng lớn mạnh. Khi làm chánh điện thầy đi vô, đi ra, góp ý xây dựng với thầy trò chúng tôi. Lời cảm niệm của đại diện Tăng chúng tại đây cũng nói lên được tình cảm sâu đậm đó. Nhưng có một điểm bây giờ tôi vẫn không an lòng trước Giác linh của thầy, là thầy luôn luôn muốn tịch tại tu viện này để nhờ Minh Tâm đem về Bà Rịa thiêu, sau khi thiêu xong thì linh cốt đem đi đâu thì đem, làm gì đó thì làm, tinh thần giải thoát của thầy như vậy. Đến lúc thầy nhắn vào dọn cái cốc trên hầm đá để cho thầy ở, thầy trò chúng tôi cũng lo dọn, thầy chuẩn bị vào thì nghe điện thoại báo tin thầy chưa vào được vì đang bịnh nặng nhưng không đến nỗi nào, tôi định đi Huế thăm thầy, các chú ngoài Huế cứ điện thoại vào thầy con nằm trên giường bệnh mà một mực “thuê xe cho thầy đi Nam”. Chỉ vỏn vẹn một hôm, hôm sau, lúc hai giờ sáng điện vào báo thầy Diệu Đế đã viên tịch, đồng thời anh Tuấn cũng điện vào, anh Hùng đã từ trần. Nghĩa là cùng lúc chỉ phút trước phút sau, có hai hung tin, một người thân đã bất hạnh nhắm mắt lìa trần vì tai nạn, một người thân ở Huế cũng đã nhắm mắt về với Phật, bàng hoàng, xúc động. Thầy trò chúng tôi không được tiếp thầy, buồn và ân hận lắm!
Đạo bạn bao năm không dễ có trong cuộc đời này, hiểu thấu lòng nhau cũng không dễ có trong cuộc sống này, tu sĩ cũng nhiều đó. Bên cạnh đây, có thầy Kiến Tánh, thỉnh thoảng cười với nhau, chia với nhau cái bánh, ly nước trà, tâm sự với nhau, rồi may mắn chúng tôi cũng được Hòa thượng Minh Chiếu về ở với chúng tôi, cho nên cuộc sống bớt cô đơn, tẻ nhạt, nhưng mà hình ảnh thầy Diệu Đế trong những bữa ăn bao giờ cũng đối diện với nhau, nhìn mặt nhau hằng ngày, từng giờ, từng phút rồi chia cho nhau từng đọt bông bí, từng cọng rau muống, cho nên cái tình cảm sâu nặng này với nhau, thế mà hôm nay thầy bỏ tôi thầy đi trước, thầy đi thì thầy nhẹ gánh rồi đó, còn tôi bao nhiêu trách nhiệm nặng nề, đối với dân tộc thì chưa làm được gì cho quê hương đất nước, đối với Đạo pháp thì vô cùng nhiêu khê. Mà tìm ra được một người để cùng chung vai giúp gánh với nhau để lo cho tiền đồ Đạo pháp quá khó khăn, nghĩ đến đàn hậu thế, đệ tử tôi cũng đông, mấy chú của Diệu Đế cũng nhiều, nhưng không biết đàn con cháu sau này có nối chí thầy không, rồi đàn đệ tử tôi có nối chí tôi không, hay là cha làm thầy con đốt sách. Cái nỗi lo này, niềm đau này biết chia sẻ với ai đây, nói với ai đây, cho nên, nhiều khi bực bội tôi la rầy đệ tử. Tôi ra tại Diệu Đế cũng nghe các chú nói lại đôi lúc thầy cũng hét, cũng la như tôi. Té ra người lớn của chúng ta có những niềm đau, nỗi khổ, có một sự dằn vặt như nhau bởi thấy xã hội ở ngoài lắm nhiêu khê, đất nước đang ở trong một trường hợp quá ư đặc biệt, chúng ta đau lòng vì thương nước thương dân mà không làm được gì, thương đạo thương đệ tử mà chẳng làm gì được hơn khi thấy lớp hậu tấn sau này có đứa đi lệch hướng, mình không trách cứ ai, nhưng mà cuộc sống không có tình, không có nghĩa, không thủy, không chung. Cũng buồn, sống mà quên đi tất cả những tình cảm thiêng liêng, Thầy Tổ? Gương sáng đó thì không noi mà cứ chạy theo cái bã văn minh vật chất mà quên đi nguồn cội. Đó là nỗi đau lớn nhất của những người lớn tuổi chúng ta. Hôm nay thầy đi rồi, thầy nhẹ gánh, thầy quảy gót về Tây, thầy đang ung dung tự tại về với Phật, còn chúng tôi trách nhiệm trên vai, ôn Minh Chiếu, thầy Kiến Tánh, thầy Chơn Định, thầy Nhuận Thiền, thầy Tuệ Không, chúng tôi đang còn ở lại đây không biết có làm trọn bổn phận đó hay không.
Vậy xin Giác linh thầy nghĩ đến tình pháp lữ, thầy thương thầy trò chúng tôi mà chóng hội nhập Ta Bà này càng sớm càng tốt, để cùng tôi chung vai gánh vác được gì cho dân, cho nước, cho đạo, cho đời. Còn nếu, thầy cứ về với Phật mà quên chúng tôi tại đây thì chắc thầy không nỡ.
Tôi có ra Huế, mấy điệu, mấy chú lo chỗ ăn, chỗ ngủ, nhưng tôi vẫn nằm dưới đất với thầy và tâm sự với thầy cho hết sự lòng, vì khi sống chúng ta tâm sự với nhau chưa hết nỗi đau, nỗi buồn. Nhưng mà thôi, như thầy Kiến Tánh nói “cái gì còn cái gì mất cũng chỉ một mà thôi, đi hay ở cũng tuy hai mà một”.
Xin thầy hãy về với Phật một cách nhẹ nhàng nhưng đừng quên thầy trò, bạn lữ chúng tôi ở đây đang nhớ đến thầy. Xin Giác linh thầy chứng minh và gia hộ cho thầy trò chúng tôi tại đây được sống trong hào quang của chư Phật, cho trọn tình, trọn nghĩa, trọn thủy, trọn chung.
Xin Giác linh thầy từ bi chứng giám.
Thương Pháp Hữu CHƠN KIẾN
Thầy Chơn Kiến thân thương,
Thầy đã tịch rồi ư !
Đi ở thường tình kiếp sống,
Nhưng sao vẫn thấy nao lòng !
Thầy ra đi, từng bước thong dong,
Tôi ở lại mỗi ngày nặng gánh.
Giữa đêm thu mà khí trời đã lạnh,
Trong ngày qua, gió mạnh, mà cây lá chẳng rung rinh.
Thầy biết sao không ?
Chùa Thiên Phú, Nha Thành, đang vươn cao cũng gập mình thương tiếc.
Chốn Phật Ân, Long địa, rộng thênh thang, cũng khép lại bồi hồi,
Xúc động lắm thầy ơi.
Pháp lữ thì đông, nhưng ít người tâm đắc,
Huynh đệ cũng nhiều, mà được mấy thương yêu.
Đã hiểu thì thương,
Đã thương thì nhớ,
Đã nhớ thì tiếc,
Đã tiếc thì buồn.
Đã buồn thì cuộc đời giảm đi nghĩa sống,
Mà, người xuất gia đâu phải kẻ thường tình.
Thầy đừng chê lão Minh Tâm ủy mị,
Thầy đừng cười, ổng Kiến Tánh râm ran.
Mấy ngày trước đây, anh em chúng tôi,
Được tin thầy quá yếu, hẹn với nhau:
Lão Kiến Tánh bay ngay ra Khánh Hòa thăm viếng.
Còn Minh Tâm hoằng hóa ở Phan Rang,
Cũng tranh thủ gặp thầy cho kỳ được.
Khi gặp nhau chẳng nói được nên lời,
Thầy lặng lẽ chỉ một cái gật đầu.
Hai tiếng gọi, muốn ừ không thành tiếng,
Tôi âm thầm nắm lấy tay thầy.
Cũng cố nén một lời giã biệt,
Lần gặp cuối, biết là tử biệt.
Trước vô thường, bất lực với sanh ly,
Nay thầy thật đã ra đi.
Quê cũ thầy êm đềm theo Phật,
Cõi Ta Bà đầy sóng gió.
Chúng tôi phải cố vươn lên,
Đêm nay đây (14/07) lão Kiến Tánh đang lướt gió tung mây, qua Tây Âu hoằng hóa.
Còn Minh Tâm, đêm nay thức trắng, viết mấy dòng kỷ niệm nhớ thương nhau
Nén niềm đau mất bạn.
Gom máu trở về tim,
Vọng Nha Thành trong đêm tối lặng im.
Để tưởng nhớ sự mất còn chua chát.
Mấy năm liền.
Ôn Trí Nghiêm, ôn Đỗng Minh viên tịch,
Bà Như Hoa, sư Tâm Đăng quy Tây.
Nay lại đến phiên thầy,
Ở Khánh Hòa còn lại bao người,
Về đến đó, còn mấy cây Thạch Trụ ?
Ôi cuộc thế !
Ôi trần đời !
Đau xót lắm phải không ?
Rồi Giáo hội,
Rồi Tăng đoàn,
Phật sự ai gánh vác !
Thôi thì,
Đã thế, âu đành phải thế.
Duyên kia, cứ để tùy duyên,
Môn sinh lơ láo, rồi chúng cũng trưởng thành.
Đệ tử bơ vơ, rồi cũng có nơi nương tựa,
Thầy có lo cũng không lo được nữa.
Tôi có buồn cũng đành chịu mà thôi,
Bây giờ, hai giờ sáng, trời xanh trong.
Thương nhớ thầy, tôi vọng hướng không trung,
Trăng mười bốn rất hữu tình.
Gió nhè nhẹ tiễn Giác linh thầy về cõi Phật,
Thầy Chơn Kiến ơi !
Phật Ân tự, đêm 14/7 nhuận
PL. 2550