Thứ Tư, ngày 14 tháng 10 năm 2026

Nguyên Phong Phật Ân

Trang nhà chùa Phật Ân – Ngôi Già-lam hồn Việt

Đạo Tình - Niềm Cảm Xúc

Điếu Văn

  • Vụ trưởng Vụ Phật học thuộc Tổng vụ Giáo dục GHPGVNTN.
  • Giám viện Viện Cao Đẳng Phật Học Hải Đức, Nha Trang.
  • Trưởng ban phiên dịch Pháp Tạng Phật giáo Việt Nam.

Nam Mô A Di Đà Phật

Bạch Giác linh Hòa Thượng

Trời đất mênh mông

Âm dương cách biệt

       Xứ Khánh Hòa mây mờ che phủ

       Đất Long Thành khói tỏa bao quanh

       Cuộc đời rằng thật quả mong manh

       Mới thấy đó nay đã mất đó

Mấy ngày trước đây

Có điện báo, tin Ngài quá yếu

Chẳng kịp chuẩn bị

Ba anh em vội vã đi ngay

Đường xa xe chạy suốt ngày

Minh Chiếu, Kiến Tánh, Minh Tâm

Rời cương giới đã may gặp mặt

Nha Thành, Long Sơn tự

Võng đu đưa mà miệng vẫn tươi cười

Xác thân tuy đau đớn

Tay búp sen và mắt mở nhìn nhau

Nói không nhiều,

       Chuyện không lắm,

              Không giã từ

                     Không cầu chúc

Một căn phòng mà thấy rộng bao la

Một bước nhẹ mà thời gian dừng lại

Nhớ thuở trước, buổi đầu sơ ngộ

Kính thương nhau, huynh đệ bao đời

Nấu xì dầu, giúp Tăng chúng khắp nơi

Làm xà bông, nuôi biết bao thế hệ

Lúc Pháp nạn đã cùng nhau chung nạn

Khi hòa bình vẫn chung chịu gian nan.

Ở tù ư ? Chẳng ngán !

       Đói khát ư ? Chẳng sờn !

Trơ gan cùng nhật nguyệt

       Trải lòng ra với đời

Nếp sống thanh bần

       Tu hành nghiêm mật

Kinh luật tinh tường

       Văn chương lưu loát

Đạo nghiệp mong hoàn thành Pháp tạng

Đời tu hành báo Phật thâm ân.

Nhưng,

       Bệnh ngặt nghèo Ngài đã ra đi

       Thân tứ đại trả về đất lạnh

Thương tiếc quá !

       Đau lòng quá !

Thế Kiết tường Ngài hướng mặt về Tây

Tay duỗi thẳng phóng quang về Đông độ

Nghĩ lại chúng con

Đời mạt pháp còn thiếu người dẫn dắt

Sự tu hành đang cần kẻ đưa đường

       Thiền môn chưa hưng thịnh

       Phật pháp mong trường thăng

Nhưng hiện nay:

       Thế tục chen vào lãnh đạo

       Xuất gia còn bị lợi danh

Nên quá cần thạch trụ như Ngài

Để chống đỡ ngôi nhà Phật Pháp

Thế mà,

       Nghiệp duyên chúng con quá nặng

       Nên Ngài đã vội ra đi

Tiếc nuối, sầu bi

Nhớ thương, đau khổ

Ân kia kể mấy cho vừa

Tình nghĩa ấy nói sao cho hết

Trước kim quan không nói được nỗi lòng

Trên linh án Giác linh Ngài minh chứng.

Bạch Giác linh Hòa Thượng

       Tình Linh Sơn cốt nhục

       Nghĩa sư đệ thâm sâu

       Cúi mong Hòa Thượng từ bi

       Nhìn lại chúng con khờ dại

       Về phương Tây, Ngài quay trở lại

       Cõi Ta Bà con dại chờ mong.

Xin Phật Tổ chứng lòng

Cầu Hòa Thượng cao đăng Phật cảnh.

Nam Mô Siêu Thập Địa Bồ Tát Ma Ha Tát.

50 năm chẵn – đúng nửa thế kỷ trôi qua. Hình ảnh vị tu sĩ trẻ tuổi nói giọng Bình Định giảng pháp mà tôi được nghe ở Huế, ở quê tôi. Khuôn hội An Truyền, cách thành phố Huế 7km. Vị giảng sư trẻ tuổi ấy là thầy Đỗng Minh, buổi giảng đầu tiên trong đời làm giảng sư của thầy.

Năm ấy (1955), thầy Đỗng Minh 29 tuổi, còn con là huynh trưởng Gia đình Phật tử Minh Tâm, tiền thân của GĐPT An Truyền ngày nay. Con mới 17 tuổi, điều khiển hàng ngũ để đón “thầy Thiện Siêu” (danh xưng lúc bấy giờ), theo sau thầy Thiện Siêu là vị tu sĩ trẻ ấy, là thầy.

Chúng con, mấy trăm hội viên và đoàn sinh GĐPT đã chuẩn bị trước đó cả tuần, sự chuẩn bị chu đáo và long trọng ít nơi nào có được. Tất cả đường làng ngõ xóm đều được quét dọn sạch sẽ, có nhiều nhà Phật tử treo đèn kết hoa để đón, hương án thiết lập ngay ở bến mà quý thầy sẽ bước từ đò lên bờ, các em Oanh vũ cầm hoa, hương, đèn, trầm và các đạo hữu quỳ dọc hai bên đường đi, chuông trống, lễ nhạc trỗi lên trầm hùng như một lễ hội rước Phật, nghinh thần.

Con hết sức ngạc nhiên khi thấy vị tu sĩ trẻ tuổi ấy nước mắt chảy ròng và lấy khăn lau liên tục chỉ vì thấy cuộc đón rước trang nghiêm long trọng quá, thầy cảm xúc mà không cầm được nước mắt.

Khi lên pháp tòa, đôi mắt thầy còn ướt, nhìn xuống thính giả nghiêm trang lắng nghe, trong đó có con. Đôi mắt ấy, nụ cười ấy, hình ảnh ấy ghi đậm nét trong lòng con trong buổi sơ ngộ.

Đến năm 1961, khi con hành điệu với Chỉnh Sún, làm thị giả cho các ôn Trí Nghiêm và ôn Trí Quang, thỉnh thoảng ôn Thiện Minh, Tâm Châu về ở lại tại chùa Long Sơn (Nha Trang) thì vị thầy dễ thương ấy, ánh mắt hiền từ ấy, nụ cười hoan hỷ ấy lại gắn chặt hơn, sâu đậm hơn vào tâm khảm con, vì hằng ngày thầy trò thường gặp mặt.

Một lần, 1970 con được thầy gọi từ Tuy Hòa vào Nha Trang để dạy bảo, khi nghe anh em chúng con: Thiện Đạo, Tâm Thủy, Nguyên Đức và Minh Tâm chống chọi với sóng gió ở trường Bồ Đề Tuy Hòa, ánh mắt ấy lần này quá nghiêm nghị và sau đó khi con phủ phục y giáo phụng hành, thì ánh mắt và nụ cười ấy lại truyền cho con thêm nghĩa sống, lúc này con mới nhận ra. Ánh mắt của thầy đại từ bi nhưng không thiếu đại hùng, đại lực.

Năm 1976, khi con đã nghỉ nghề gõ đầu trẻ ở Bồ Đề Phan Thiết, thầy lại nhắn con ra Nha Trang để truyền nghề làm xà phòng, thầy dạy: “Tu sĩ là người có trí tuệ, phải nhìn rộng thấy xa, phải kham nhẫn chịu khó, thời nào cũng sống được, việc gì cũng làm được, phải chứng minh cho mọi người biết rằng chúng ta không phải là kẻ “ngồi mát…”, như họ lầm tưởng”. Con lại may mắn là môn đệ làm xà phòng của thầy, nhưng chưa thi thố tài năng thì đã đi nghỉ mát ở trại giam Phan Thiết, ánh mắt và con người thầy xuất hiện thoáng qua phòng giam của con, liếc vào mà cười, nụ cười truyền cho con một sức mạnh, một nghị lực, một ý chí kiên cường, giúp con chịu đựng hơn 5 năm lao lý, vì mỗi lần chán nản, lo buồn, thì nụ cười ấy giúp con vượt qua tất cả. Thầy cũng vào tù như con!

Lần cuối cùng trong bệnh viện Chợ Rẫy, khi tâm sự, thầy trò xác minh một sự kiện vô cùng bí mật và quan trọng trong cuộc vận động 1963 của Phật giáo, liên quan đến giáo sư Bửu Hội, con của sư bà Diệu Huệ, cháu sư bà Diệu Không. Thầy lại rưng rưng nước mắt: “Vụ việc tôi cũng suy nghĩ mấy chục năm nay, chơn giả khó phân, nay Minh Tâm xác định sự thật, qua lời dạy của ôn là như vậy, là đã giải được nghi vấn trong lòng”.

Con ôm chân thầy xoa bóp, thầy im lặng rồi cười, nụ cười muôn thuở khó phai mờ trong tiềm thức của con! Thầy ơi! Con nhớ và ghi lại vài kỷ niệm của thầy trong con, để tiếc nuối nhớ thương thầy. Thầy thích đọc Phật Ân của con, khen Phật Ân đúng hướng, con nhớ lắm đôi mắt và nụ cười của thầy, đôi mắt từ bi “Từ nhãn thị chúng sanh” và nụ cười hoan hỷ “Từ nhan vi tiếu”. Lạy thầy, thầy Đỗng Minh của con!

Phật Ân tự,

ngày mãn hạ 12/7, PL. 2549

Sương Đà Lạt ngừng rơi,

Gió Linh Sơn ngừng thổi.

               Một cõi đi về,

               Đến đi thường tại,

               Cõi trần vắng bóng,

               Cực Lạc nở hoa.

Giữa Ta Bà chúng con còn trôi nổi,

Mong ôn hội nhập dẫn bước chúng con đi.

        Hôm nay,

        Trong cảnh biệt ly,

Thành khẩn niệm câu tiếp dẫn.

Mặt trời lặn về Tây,

Vừng hồng soi bóng nhạn.

Nghiêng cánh xuống đồi thông,

Vọng lời than ly biệt.

       Đạo tình,

              Thắm thiết,

                     Nghĩa trọng,

                            Ơn sâu.

       Đà Lạt âu sầu,

       Linh Sơn cúi mặt.

Môn đồ khóc, tiễn biệt ân sư,

Thế quyến buồn, đưa người thân thiết.

Hồn thiêng đất Việt,

Phật giáo Nam bang.

Tâm chí kim cang,

   Niệm cầu bất diệt.

Gửi bình luận

↑