Thứ Năm, ngày 15 tháng 10 năm 2026

Nguyên Phong Phật Ân

Trang nhà chùa Phật Ân – Ngôi Già-lam hồn Việt

Đạo Tình - Niềm Cảm Xúc

Nhớ Thầy

Vào mùa An cư, cấm túc trong hạ (PL. 2549), lục lại các bản thảo, xúc động nhớ một vị thầy!

Bài này tôi đã đọc trong một lễ Hiệp kỵ GĐPT huyện Phú Vang tại chùa Ba La Mật (Huế) sau khi Hòa thượng Thích Đức Tâm viên tịch.

Tôi gửi nhờ Sen Trắng đăng tải để GĐPT Phú Vang nói riêng và GĐPT/VN nói chung, tưởng nhớ một vị thầy, một ân sư, mà chúng ta khó có ngôn ngữ để diễn tả ân đức của người. Hòa thượng Thích Đức Tâm trú trì chùa Pháp Hải (Cồn Hến – Phú Vang), người Cố vấn Giáo lý cùng 3 vị khác soạn cuốn Phật Pháp 4 bậc đầu tiên cho GĐPT/VN.

Kính bạch chư Tôn Hòa thượng, chư Thượng tọa, Đại đức, Tăng Ni,

Kính thưa quý đạo hữu cùng các anh chị em thân mến,

Kính thưa quý vị,

Đáng lẽ, trong giờ phút thiêng liêng này, trước sự chứng minh của Tam Bảo đã có sự hiện diện của một người, một người mà tất cả chúng ta, người sống cũng như kẻ chết đều hướng đến, người đó đã che mát chúng ta như một vầng mây ấm, đã đùm bọc yêu thương chúng ta như một người Mẹ, đã dạy dỗ khuyến khích chúng ta như một người Cha, đã dắt dẫn dìu đỡ chúng ta như một người Anh, đã đưa đường dẫn lối cho chúng ta như một người Thầy, đã chia bùi sẻ ngọt với chúng ta như một người Bạn, chí tình chí thiết. Một người mà chúng ta khó có ngôn ngữ quảng diễn, vì người đóng một vai trò quá bao quát: vừa là Thầy, vừa là Cha, vừa là Mẹ, vừa là Anh, mà cũng vừa là Bạn, vì trong suốt một hành trình tiến triển của GĐPT, chúng ta luôn có người bên cạnh, kể cả những lúc vui, buồn, sướng khổ, tù tội, đau thương,… người đó là Hòa thượng Đức Tâm, Tọa chủ chùa Pháp Hải, mà chúng ta thường gọi với một chữ thân mật, kính yêu, chân tình là “Thầy”, một người thầy khả kính.

Thầy của chúng ta vừa viên tịch cách đây không lâu. Sự viên tịch của thầy làm đất thần kinh bi lệ, làm tim chúng ta nhói đau và đau hơn là lễ hiệp kỵ này vắng bóng thầy. Các hương linh những người chị, người anh, người em của chúng ta quá cố, họ có gặp được thầy không? Hay là họ như chúng ta về dự lễ hôm nay mà bùi ngùi nhớ thầy với bao nhớ thương tiếc nuối?

Thưa các đạo hữu,

Cùng các anh chị em thương mến,

Chúng ta hình dung lại khi thầy sắp viên tịch, bệnh duyên hành hạ, hơi thở đứt quãng, thầy vẫn cười cho chúng ta yên lòng, thầy gọi chúng ta đến bên cạnh, bên giường bệnh, thầy hỏi thăm về ngày hiệp kỵ sắp đến, rồi nhắc nhở rằng: “Có ít làm ít, có nhiều làm nhiều, anh em đừng quên lễ hiệp kỵ mà tội, vì đó là hình thức niệm ơn và chất liệu để nối kết các thế hệ, thầy tiếc là không được cùng anh em vượt qua đoạn đường cam go khó khăn hiện tại, anh em hãy đoàn kết thương yêu nhau mới vượt thắng giai đoạn này…”. Nhắc xong, thầy thở dài và đôi mắt thầy như bọng nước.

Ôi! Cao quý lời thầy, thắm thiết mà chân tình, ngọt ngào mà sâu lắng… và lễ hiệp kỵ này đã vắng bóng thầy.

Lạy thầy,

Đến giờ phút đó mà thầy vẫn nhớ ngày hiệp kỵ của GĐPT, vẫn nhớ các hương linh con em của thầy quá cố, vẫn đem hơi tàn nhắc nhở, dạy dỗ chúng con. Thầy ơi! Sợ thầy buồn chúng con phải cắn chặt môi để khỏi bật ra tiếng khóc! Giờ này, chư Thượng tọa, Đại đức, Tăng Ni đã thay thầy mà về với chúng con, các ngài đang đứng đó, nhớ thầy qua hình ảnh của các ngài, chúng con tin rằng có cảm tức có ứng, Giác linh của thầy chắc chắn đang quyện tỏa trong khói trầm hương, đang rạng ngời trong ánh đèn lung linh huyền diệu trên linh án và chắc chắn hơn nữa, thầy đang hiện diện trong tiềm thức, trong tư tưởng, trong ý thức, trong niềm thương, nỗi nhớ của toàn thể anh em GĐPT chúng con.

Xin Giác linh thầy chứng minh cho chúng con, các huynh trưởng và đoàn sinh hiện diện, các hương linh huynh trưởng và đoàn sinh GĐPT/VN quá cố.

Tưởng niệm thầy, tưởng niệm các anh chị em của chúng con, tưởng niệm các bậc tiền bối hữu công, vọng hướng lên linh đài, chúng con cung kính đảnh lễ tam bái.

Bạch thầy !

Con về đây tiễn đưa thầy lần cuối,

Tình thâm sâu gần ba chục năm tròn.

Dù cuộc đời có lấp biển dời non,

Nghĩa sư đệ vẫn sắt son chung thủy.

Vì Phật sự một ngày xuân tuyệt mỹ,

Đến Tuy Hòa lòng rộn rã niềm vui.

Đất Phú Yên con tạm biệt ngậm ngùi,

Thầy căn dặn với ngôn từ thân ái.

Bao năm qua dù mưa dầm nắng dãi,

Giòng sông Đà vẫn lặng lẽ trong con.

Một phút giây bừng dậy sóng mất còn,

Thầy quảy gót nhẹ rời xa núi Nhạn.

Miền Cực Lạc, Diệu Pháp Âm là bạn,

Cõi Ta Bà, tứ chúng vọng lời đau.

Tâm chí thành con kính lễ nguyện cầu,

Sen chín phẩm Giác linh thầy chứng giám.

Kính lễ

Hòa thượng Trí Tánh, Viện chủ Bửu Thiền Tự (Long Thành) đã quá già yếu thì việc xả báo thân quảy gót về Tây là điều phải đến, nên môn đồ pháp quyến và Pháp hữu đã chuẩn bị để sẵn sàng tiễn đưa Ngài về cõi Phật.

Thế mà khi được báo tin Hòa thượng viên tịch tôi không khỏi xúc động, nén lòng buông một lời than “Hòa thượng đã về Tây, đã hoàn thành bổn phận… còn tôi, còn đây nghiệp trần, còn nặng nợ hai vai”.

Nhớ Hòa thượng, trong lễ Tiểu Tường tôi ghi vài kỷ niệm, những kỷ niệm khó quên trong tình Pháp lữ, nghĩ cũng là cách niệm nhớ thâm tình tôi và Hòa thượng.

  • Sơ ngộ

Mười tám năm trước, từ 1982, tôi gặp lần đầu Thượng tọa Bửu Thiền (trụ trì chùa Bửu Thiền, thị trấn Long Thành).

Trong căn nhà thờ Phật trên gác bà Tường An. Tôi và thầy Kiến Tánh mới bước lên đã thấy thầy Trí Thâm (Bửu Lộc) và một vị sư già, người nhỏ nhắn, miệng cười vui vẻ chào hỏi móm mém rất dễ thương. Tôi chào lại nhưng hơi bỡ ngỡ một chút. Thầy Bửu Lộc nhanh nhẩu giới thiệu ngay:

  • Đây, thầy Minh Tâm mới nhập cư Long Thành. Còn đây là thầy Bửu Thiền, trụ trì chùa Bửu Thiền, còn tôi và thầy Kiến Tánh khỏi giới thiệu.

Tôi chưa kịp mở lời, thì thầy Bửu Thiền đã cười vui:

  • Ở đây bốn người mà ba chữ Bửu (Bửu Lâm, Bửu Lộc, Bửu Thiền), còn thầy một mình, kiếm một Bửu nữa cho đủ số của Tăng.

Tôi ấm ớ vì lạ nước lạ cái, biết mô tê gì đâu mà kiếm thêm một Bửu. Tuy vậy, buổi sơ ngộ với thầy Bửu Thiền cũng khá thú vị, tâm đắc do đức tính hoan hỷ tự nhiên của thầy.

  • Mời

Sau lễ và thọ trai xong, khi chào nhau ra về, thầy Bửu Thiền mời tôi và thầy Kiến Tánh ngày Rằm tới đến Bửu Thiền ra mắt Phật tử. Tôi đồng ý ngay vì muốn biết chùa Bửu Thiền ra sao, ở đâu và nhân dịp làm quen, thầy Kiến Tánh như hiểu ý:

  • Đúng, đúng, đi liền, lão MT này cũng có tâm hồn ăn uống lắm, thầy Bửu Thiền làm “kép kép” đãi khách mới cho “xôm”.

       Tôi tiếp lời:

  • Thầy Kiến Tánh nói chí phải, ai cũng cần thuộc câu “nơi nào ăn MT có, nơi nào khó chẳng có MT”.

Chúng tôi cười, chia tay nhau và hẹn ngày Rằm tái ngộ. Thầy Bửu Thiền dẫn chiếc xe đạp sườn ngang (nét độc đáo riêng của thầy) trước khi leo lên xe còn nói vọng một câu mà tôi nhớ mãi: “Nhớ nghe, Rằm tới, đất cũ đãi người mới, đừng quên Minh Tâm, Kiến Tánh phải đến Bửu Thiền mới thành Phật được”, chúng tôi đều cười vui.

  • Long cốt

Đến Bửu Thiền, chùa kiến tạo theo phong cách vừa tân vừa cổ, nằm giữa đồng ruộng thoáng mát, lối vào bằng một con đường vừa đủ cho xe chạy, hai bên cỏ mọc xanh tươi, như con đường làng khá thơ mộng.

Thầy Kiến Tánh nằm trên bộ ván dài thả hồn vào tiểu mộng, còn thầy Bửu Thiền dẫn tôi đi dạo cảnh. Đến một đám chậu kiểng lớn nhỏ lủ khủ, trồng rất nhiều loại xương rồng khá đẹp. Tôi tò mò hỏi vì thấy nhiều loại quý hiếm tôi chưa biết, hỏi tên từng loại, thầy Bửu Thiền thành thật “Tôi không biết tên, thấy đẹp thì trồng”. Rồi thầy cười vui nói thêm:

  • Đến Long Thành phải đến Bửu Thiền xem Long Cốt. Tôi đặt tên cho nó là Long Cốt to, Long Cốt nhỏ, Long Cốt mẹ, Long Cốt con…”.

       Tự nhiên tôi lý luận:

  • Long Thành, chữ Long này đâu phải là Rồng, mà là…

       Thầy Bửu Thiền nói ngay:

  • Bây giờ chữ Hán ít ai biết để phân biệt, người ta chỉ nghe âm để đoán nghĩa, như nghe âm tử họ nói là chết, âm lệ họ nói là nước mắt, chứ ít ai nghĩ là đẹp (mỹ lệ), chữ Nguyên Phong của thầy người ta nghĩ chữ phong là gió chứ ai biết nghĩa nó là Cao Phong, đỉnh núi… trúng trật có ai thưởng phạt gì đâu, hiểu sao cũng được, thế gian mà, tùy thuận cho dễ sống.

Thì ra, sơ ngộ thầy Bửu Thiền đã ngầm ý tặng tôi một lời khuyên, nhớ ơn thầy mãi mãi.

  • Mấy búa ?

Ngồi vào bàn, cô Diệu Hoa bưng lên mấy dĩa bánh xèo nóng hổi thơm phức, mấy dĩa rau sống tươi xanh, tô nước tương nổi bật mấy lát ớt đỏ trông rất hấp dẫn.

Chúng tôi nhập cuộc chỉ có ba người vừa ăn vừa trò chuyện Đông Tây kim cổ. Thầy Bửu Thiền nói tôi không nên dùng đũa cứ tự nhiên theo kiểu Ấn Độ cho thoải mái. Nghe lời thầy chúng tôi áp dụng cách ăn Ấn Độ và cảm thấy ngon hơn, thầy Kiến Tánh phá lên cười như bom nổ. Tự nhiên thầy Bửu Thiền nhìn tôi hỏi: “Mấy búa?”.

Tôi ngơ ngác, trố mắt nhìn chưa hiểu gì cả, thì hai thầy phá lên cười rôm rả, tôi lại ngơ ngác hơn, có lẽ thấy bộ điệu của tôi buồn cười quá nên hai thầy lại cười dữ, tôi phụ họa cười theo một cách gượng gạo. Thầy Bửu Thiền ngưng cười, đẩy dĩa bánh qua trước mặt tôi, nói tiếp:

  • Tôi yếu, ít nhất cũng 5 búa, còn thầy khỏe hơn phải đủ 10 búa mới rời khỏi bàn ăn.

Bây giờ tôi mới hiểu rõ, khoái quá lại cười to.

  • À, thì ra thế, hiểu rồi, đệ chỉ xin 5 búa là tối đa, mới nhập thất 5 ngày về, bao tử còn yếu lắm.

Chúng tôi thân nhau từ đó, suốt 18 năm qua, trong mọi sinh hoạt Tăng giới chúng tôi thường gặp nhau. Bao giờ thầy Bửu Thiền cũng dành cho chúng tôi những nụ cười tươi vui, những ánh mắt thâm tình, những lời nói vui vẻ ngọt ngào và nhất là những câu pha trò, đùa vui thân mật, cởi mở, nên mỗi khi gặp nhau đều cho nhau những kỷ niệm đẹp.

Nay vắng bóng thầy, tôi cảm thấy như thiếu một cái gì thân thiết bên mình, thị trấn Long Thành thiếu đi một vị sư già đủng đỉnh trên chiếc xe đạp sườn ngang dạo khắp phố chợ, đem niềm hoan hỷ đến cho mọi người, vì cái đức tính bình dị, chơn chất, hiền hòa và nụ cười móm mém trên đôi má nhăn nheo đầy từ ái của thầy.

Long Thành,

mùa Thành Đạo 2544

Gửi bình luận

↑