Loạn Từ Đàm – Đêm Kinh Hoàng Tại Đài Phát Thanh Huế

LOẠN TỪ ĐÀM
(Tường thuật vụ tấn công
chùa Từ Đàm đêm 21/08/1963)
3 giờ sáng ngày 21/08/1963, sau khi đổi phiên gác thứ 3, đoàn sinh Gia Đình Phật Tử và Hướng Đạo mới đứng vào vị trí…
Thình lình, lính bên ngoài nhảy vào các cửa, nhiều nhất là góc bệnh xá. Họ trang bị bằng súng có cắm lưỡi lê, tấn công như vũ bão, dồn các Phật Tử và Hướng Đạo lui dần vào trong… Dù bị tấn công thình lình, chúng tôi vẫn đủ bình tĩnh vừa báo động, vừa ngăn cản, không cho lính tiến vào giảng đường, nơi có đặt quan tài cố Đại Đức Tiêu Diêu. Lúc các đội tiếp ứng hay tin và mọi người trong chùa thức dậy thì lính đã chiếm trọn sân thượng và sân hạ, đã lên đến hiên chùa và tầng cấp nhà giảng. Nơi đây họ gặp phải sức kháng cự. Các Phật Tử, Hướng Đạo, sinh viên và học sinh đang ngủ đều vùng đứng dậy một lượt, với hai tay không, sát cánh bên nhau, tay trong tay, kết chặt thành hàng ngang, liều chết để bảo vệ quan tài. Lính không tiến thêm được nữa, mặc cho tên chỉ huy hò hét hùng hổ như một con thú điên cuồng…
5 phút cầm cự, không tấn công thêm được trước sức tự vệ của những người con Phật đang ưỡn ngực chờ chết, thách đố với súng sắt, đạn đồng, tên chỉ huy bèn ra lệnh rút lui sau khi đã gây thương tích cho bác Trưởng phòng Bệnh xá, cướp mất một máy ảnh, bắt theo một nữ Y tá và một Hướng Đạo sinh.
Lúc này, mọi phương tiện báo động của nhà chùa được sử dụng… tiếng trống, chuông, tiếng thùng thiết hòa với tiếng phóng thanh cầu cứu vang lên làm náo động cả một vùng. Mọi phương tiện bố phòng được chuẩn bị. Chiến cụ ở đay là những cái bao bố cũ, những chiếc chiếu rách được bó lại làm đuốc để phòng điện bị cúp hay đậy lựu đạn cay, lựu đạn khói và lửa. Những người có mặt ở trong chùa đều lộ vẻ lo âu, sợ sệt nhưng cương quyết… Các vị Thượng Tọa im lặng cầu nguyện… Tiếng cầu cứu vẫn tiếp tục vì tin rằng quân đội sẽ tấn công lần khác.
Một cuộc hội đàm cấp tốc của các Huynh Trưởng GĐPT và Hướng Đạo đã được thảo luận ngay tại phòng liên lạc (mặc dù đã có phiên họp thường lệ vào mỗi buổi tối để phân công canh gác).
Kế hoạch bố phòng được cải tổ, lực lượng được tăng cường hợp tác bởi hai đoàn sinh viên và học sinh Phật Tử (trước đó canh gác chỉ có Phật Tử va Hướng Đạo). Để dễ kiểm soát, ngoài đồng phục của GĐPT và Hướng Đạo sinh, toàn thể anh em học sinh và sinh viên đều mặc quần đùi áo mailot cho khác với số công an mặc thường phục trà trộn vào khuấy phá.
Một sáng kiến, cũng lựu đạn cay bằng ớt, lựu đạn lửa bằng xăng được bỏ vào lon sữa để chuẩn bị phản công, nhưng xăng trong chùa dùng để đi xe quá ít mà ớt cũng không bao nhiêu, nên anh em nhìn nhau thất vọng.
Một ý nghĩ, sợ cướp xác Đại Đức Tiêu Diêu, một hành động bảo vệ quan tài. Thế là bao nhiêu củi trong bếp, dầu trong phòng, chiếu mền rách và ghế băng được chất chung quanh quan tài và trước tầng cấp nhà giảng. Nếu cần là phóng hỏa để ngăn bươc tiến của quân đội.
Lúc này, hăng say uất hận, một số anh em không dằn được lòng mình, tìm bao nhiêu đá sỏi tập trung lại từng đống và cứ núp trong thành chùa nhìn ra hễ thấy người mặc áo rằn ri bò đến hay đi ngang là đôi. Ở trong thì đá gạch liệng ra, ở ngoài thì lựu đạn bay vào. Có những em thiếu niên trên tay không có bao bố, lựu đạn ở ngoài phóng quá nhiều, khói lửa mù mịt, các em nhanh trí chạy vào nhà bếp lấy thau đựng cơm canh thường ngày, đem ra đuổi theo (nói là đuổi theo vì lựu đạn quân đội đôi vào chạy quanh như chuột). Các em úp được trái nào, đứng lên trên đè xuống, hơi trong lựu đạn bung lên, các em lại ré lên cười như một chiến binh thắng trận. May mà lựu đạn khói, cay chứ nếu như là lựu đạn nổ, có lẽ các em phải tan xác như các Thánh tử ở Đài phát thanh vậy.
Đặc biệt hơn, can đảm hy sinh hơn nhưng cũng đáng trách hơn là một em thiếu niên đã tìm cách bò ra khỏi chùa, đến góc hiệu ảnh Tự Do lấy hai chiếc xe gắn máy, một chiếc xe đạp của một người Công an vây chùa, dồn vào một đống rồi phóng hỏa đốt. Lửa gặp xăng bốc cháy dữ dội, trong chốc lát 3 chiếc xe chỉ còn là một đống sắt vụn.
Đến 3 giờ 20 phút, từ trong xóm chùa Vạn Phước, một đoàn người cầm đuốc kéo ra, đi đầu chỉ vài ba thanh niên, theo sau toàn là đàn bà con nít. Họ dừng lại và nghe theo sự điều khiển trên máy phóng thanh, họ đồng ngồi xuống giữa đường rồi lấy tranh khô, rơm củi của các nhà chung quanh đem ra chất đốt sáng từng chỗ, chiếu rõ vẻ mặt rắn rỏi của những thanh niên, lo âu của những bà lão, nhất là vẻ uất hận của những em be trai trên tay lăm le nắm đá, chừng như chờ sẵn sàng nện vào đầu những kẻ nào sờ vào chúng hay thầy bạn của chúng…
Ở sân hạ, quân đội vẫn bố trí bên ngoài, vẫn liên tục đôi lựu đạn cay, lựu đạn khói và lửa vào, nhưng ở trong đã dùng nhiều bao bố, chiếu rách tẩm nước, hoặc lấy thau úp lên trên nên không mấy ác hại, tuy thế, hằng trăm trái chanh được cắt ra, rỉ vào mắt mới bớt được phần nào hơi cay đang tàn phá nhãn quan những người trong chùa.
3 giờ 40 phút, từ dưới cầu Bến Ngự, một đoàn khác độ 30 người kéo lên, đi đầu là một vị sư trẻ tuổi giơ cao ngọn đuốc. Đến góc bệnh xá đoàn người dừng lại, chưa kịp vào trong vì bị binh lính nổ súng làm cho vị Tăng sĩ ấy trúng đạn gãy chân, đoàn người kia phải chạy tán loạn vì súng bắn quá nhiều. Thấy thế, hai Phật Tử, hai Hướng Đạo sinh băng thành nhảy ra cõng vị sư ấy vào chùa băng bó.
Trong chùa vẫn liên tiếp cầu cứu, tuy nhiên ai cũng nghĩ đến việc cầm cự đến cùng và trông cho mau sáng để có thêm sự tiếp ứng của tín đồ… Bên ngoài vẫn tiếp tục ném lựu đạn cay vào chùa mỗi lúc một nhiều, nhưng không có kết quả, họ lại xoay qua chiến thuật bắn, họ bắn thật sự, ngói, gạch, vôi, cát bị đạn xuyên qua tường rơi xuống lung tung. Một Hướng Đạo sinh, một Phật Tử, và một bà nhà bếp trúng đạn bị thương. Bệnh xá chỉ còn hai nhân viên, làm việc hết sức mới ngăn được phần nào những dòng máu vì đạo.
Mãi đến lúc 4 giờ 40 phút, toàn cả lính và lính từ các ngã đường: Bến Ngự lên, Nam Giao về, Báo Quốc qua, Linh Quang tới, hùng hổ lăm le súng trên tay, lưỡi lê chói sáng, mat bừng sát khí, tiến đánh các đoàn người tay không bên ngoài rồi nhảy thành, đạp rào, băng tường ập vào chùa, khí thế rất mạnh mẽ xem như không có một sức mạnh nào cản nổi…
Trước sự tấn công ồ ạt của binh lính đầy đủ khí giới, anh em Gia Đình Phật Tử, Hướng Đạo, sinh viên và học sinh trên tay chỉ có vài ba viên gạch, hay một lẽ củi không quá ba gang, vẫn sát cánh bên nhau chống giữ kịch liệt…
Một trận đánh diễn ra thật sự ở chùa Từ Đàm, một bên thì củi đá sử dụng bởi những bàn tay chuyên cầm bút giấy, một bên thì súng đạn, lưỡi lê, roi sắt, sử dụng do bàn tay rắn chắc của những con người dày dạn với máu xương, đã từng xông pha nơi chiến trận. Sự thắng bại đã thấy rõ ngay từ lúc đầu, dù thế lòng can đảm của những người con Phật đã được thể hiện một cách sống động trong lúc này.
Qua 15 phút kháng cự, lính tiến vào quá đông, anh em ở trong bị thương lại quá nhiều, nên lần lần bị áp đảo. Sức kháng cự yếu dần… Cuối cùng, lính dồn tất cả vào nhà bếp, nhà Tăng rồi lôi ra từng người, từng người không kể trai gái, già trẻ, thay, trò…
Họ vừa la hét, vừa dùng bảng súng, dùi gỗ dài độ 5 tấc, gậy, roi sắt, xáng vào đầu, vào lưng, đạp vào ngực, vào bụng. Mặc những tiếng rên la khóc lóc năn nỉ họ không sờn lòng, cứ thẳng tay, thẳng chân đá đạp. Những người quá khiếp đảm trốn vào phòng, họ đập cửa, đấm bể gương, lên đạn đòi bắn, rồi ném lựu đạn cay vào phòng, nên những người ở trong phải ra, thế là họ chụp lại và cứ thay nhau tiếp tục đánh đập.
Khi quân đội chiếm trọn hai sân thì trước nhà giảng lửa bốc cháy, anh em Hướng Đạo sinh phóng hỏa để ngăn đường tiến vào quan tài của cố Đại Đức Tiêu Diêu. Sau 5 phút, quân đội dùng cát dập tắt thì chiếc quan tài ở trong lại bùng cháy, cũng chỉ muốn nhục thân của Ngài không lọt vào tay của bọn người vô đạo.
- “Thằng nớ đó, hắn đút hòm, bắn đi, bắn chết mẹ, bắn đi!”.
Đó là lệnh của tên chỉ huy. Một người lính tuân lệnh đứng ngoài cửa gương chỉ súng nhắm ngay người vừa mới phóng hỏa đốt hòm Đại Đức Tiêu Diêu, lên đạn, chuẩn bị bấm cò… Thình lình, một Hướng Đạo sinh nóng lòng sợ bắn chết nhảy ra nhanh như cắt, cướp ngay khẩu súng. Một tiếng nổ chát chúa, tiếp theo là mảnh gương rơi loảng choảng. May mà viên đạn không trúng ai. Cùng lúc đó một người trong nhà giảng chạy ra ôm lấy người lính. Thế là hai người vật lộn nhau vừa đủ thì giờ cho anh bạn kia bẻ đôi bảng súng vừa cướp được. Lưỡi lê ngời sáng của một người lính mơi chạy lên bay vào đầu. Anh bạn xoay mình né tránh, rồi đưa tay đón lấy khẩu súng thứ hai giật mạnh. Người lính mất thăng bằng chúi bổ, làm rơi bể chậu hoa bên cạnh. Nhưng ba người lính khác lại chạy lên, thế là bên 5 bên 2, bên tay không, bên có súng và dùi, đánh nhau kịch liệt (xin nói rõ 2 Hướng Đạo sinh này có học nhu đạo). Nhưng “mãnh hổ nan địch quần hồ”, một người bị lính đánh lõa đầu bất tỉnh nằm lăn trên mặt thềm, còn một người bị đá lăn nhào xuống tầng cấp như con vụ. Cả 5 người lính cùng hè nhau chạy vào chữa lửa trong chiếc quan tài. Khi dập tắt lửa thì đã cháy mất ¼ cái hòm.
Vào lúc này, tiếng kêu gọi cầu cứu trên máy phóng thanh mỗi lúc mỗi gấp, mỗi nghẹn ngào ai oán: “Tình quân dân cá nước, anh em nên thương lấy chúng tôi, những tu sĩ suốt đời chỉ biết tụng kinh niệm Phật. Chúng tôi chỉ đòi tự do tín ngưỡng. Anh em hãy ngừng tay, ngừng tay! Chúng tôi đã đau khổ nhiều rồi. Đừng nghe theo những mật lệnh quá vô lý và bất công, nên nghĩ đến 80% dân tộc Việt Nam là Phật giáo”. “Cốp! Cốp!”, tiếng bảng súng nện vào đầu, tiếp theo là tiếng rên rỉ, thân người ngã quỵ, tiếng trên máy im bặt. Thế là hết, quân đội đã chiếm trọn ngôi chùa, máu lại rơi, thịt lại đổ…
Đánh đập chán chê, họ bắt tất cả ngồi giữa sân chùa rồi vứt lên xe chở đi tất cả, có người bất tỉnh hay bị thương quá nặng họ bong đôi lên xe như đôi một con lợn, ai còn tỉnh tỏ vài cử chỉ bất tuân thế là họ có dịp hành hùng tát tai, gõ đầu.
Nóng lòng và cảm thương đệ tử, các Sư Cô nước mắt dầm dề, đưa mình hứng lấy hàng chục con roi sắt vun vút bay vào mình như mưa bấc, số Phật Tử khác lại chạy đến chịu thay. Thầy muốn chịu thay cho trò, trò muốn bảo vệ được Thầy, thế rồi cả Thầy lẫn trò cùng chung chịu, rồi cùng được dịp “đi xe chính phủ”.
Xe này đến xe khác, hết người đến của, nào máy móc, tủ gương, tài liệu, tranh ảnh, nào gạo, mì, chén đũa, kể cả hai thùng phước sương và mấy trái dưa trong bếp.
Thế là ngôi chùa lịch sử Từ Đàm, trú sở của một tổ chức Tôn giáo, nơi thờ tự cầu kinh của 80% dân tộc Việt Nam đã biến thành đồn lính. Lính của “chính phủ Việt Nam Cọng Hòa do cụ Ngô lãnh đạo”, đến chiếm đóng ngôi chùa này để “giữ gìn an ninh trật tự” bảo vệ “tự do tín ngưỡng cho dân tộc”.
PHỤ LỤC 3
ĐÊM KINH HOÀNG
TẠI ĐÀI PHÁT THANH HUẾ
Đại lễ Phật đản năm 1963 tại Huế, như thường lệ hàng năm là cuộc rước Phật từ chùa Diệu Đế lên lễ đài chính ở sân chùa Từ Đàm.
Năm nay (1963) đã biến thành cuộc biểu tình tự phát của quần chúng Phật tử phản đối lệnh hạ cờ Phật giáo của Phủ Tổng thống Ngô Đình Diệm.
Đoàn đến Từ Đàm, các biểu ngữ được đưa cao và ban Tổ chức Đại lễ Phật đản đã mời thầy Trí Quang lên lễ đài giải thích và hứa sẽ đạo đạt nguyện vọng chính đáng của Phật tử lên Tổng thống với tư cách là Hội trưởng Tổng hội Phật giáo tại Trung phần.
Buổi lễ được thu vào băng nhựa và sẽ phát thanh lại vào tối hôm đó 15/4 PL.2508 (08/05/1963).
Khắp các chùa tại Huế chờ đợi, mở radio sẵn để nghe lại buổi phát thanh.
Hòa thượng Thích Mật Nguyện, trú trì chùa Linh Quang và anh Lê Văn Dũng, xướng ngôn viên chính thức của ban Tổ chức Đại lễ Phật đản cầm cuốn băng nhựa đến Đài phát thanh Huế.
Tại đây, ông Ngô Ganh, Giám đốc Đài phát thanh báo là có lệnh trên không cho phát, do đó, ông chỉ co nhân viên phát nhạc.
Khắp nơi, càng chờ đợi càng chẳng nghe gì ngoài nhạc không lời, họ lần lượt kéo đến Đài phát thanh đòi nghe lại truyền thanh buổi lễ.
Tin đến Từ Đàm mời Thầy Trí Quang, Tổng trị sự Phật giáo Trung phần đến giải quyết, ông Ngô Ganh tiếp tại văn phòng, đang thương thảo, thì ở bên ngoài đã nghe tiếng đả đảo chính sách bất công, phải phát thanh cuộc lễ, chúng tôi muốn chính quyền thủ tín truyền thanh phát lại buổi lễ.
Sóng người tràn ngập hành lang, sân vườn, hoa viên chung quanh Đài phát thanh Huế, tràn ra đường Lê Lợi, ngập lối quanh tòa nhà mô ranh tràn lên cầu Tràng Tiền, nghẽn lối đi của xe cộ.
Tình hình căng thẳng, vài nhân viên của Đài tỏ vẻ lo ngại, ông Giám đốc Ngô Ganh cầu cứu “Thầy Hội trưởng” dàn xếp.
Thầy Hội trưởng yêu cầu ông Giám đốc mời ông Tỉnh trưởng xuống để giải thích, có lẽ ông Tỉnh trưởng thấy tình hình bất ổn nên muốn né tránh, vì chúng tôi nghe rất rõ tiếng “Thầy Hội trưởng” nói qua điện thoại: “Ông cứ xuống đây, tôi tin quần chúng Phật tử sẽ không làm gì ông phải ngại… … … Tôi nói, ông cứ xuống đây, có tôi… … …”.
Sau vài phút, “Thầy Hội trưởng” ra đứng ở hành lang, ông Giám đốc đã vâng lời Thầy bắt một dàn loa phóng thanh khá mạnh, cầm micro Thầy ra lệnh: “Các Phật tử hãy yên lặng nghe tôi, tôi bảo, hãy mở một lối đi để ông Tỉnh trưởng vào gặp tôi, hãy giữ trật tự, đợi tôi, mọi việc để tôi giải quyết”. Hàng trăm tiếng dạ rang vang lên, và dù, một rừng người tự động dạt ra hai bên để ông Tỉnh trưởng Nguyễn Văn Đẳng và các cận vệ đi vào, ông Tỉnh trưởng đi qua, sóng người bít lại như cũ. Khi “Thầy Hội trưởng” và ông Tỉnh trưởng, ông Giám đốc Đài phát thanh đang giải quyết ở trong phòng thì bên ngoài lại vang lên nhiều âm thanh: “Đả đảo, đòi hỏi phải phát thanh”. Có nhiều thanh niên leo lên các nhánh cây, các giàn hoa cầm cờ Phật giáo phất qua phất lại, họ tràn lên hành lang của Đài, thấy tình hình quá căng thẳng, Đài phát thanh có thể sập tan trong giây lát, ông Tỉnh trưởng xin “Thầy Hội trưởng” khuyên bảo Phật tử giúp chứ chính quyền hoàn toàn bất lực.
Trong lúc này thì xe xịt nước, xe tăng đã lù lù tiến tới, tiếng la hét, hỗn loạn, nước tung tóe xịt mạnh vào biển người, cảnh tượng càng thêm rối loạn.
Theo lệnh Thầy, một cái bàn gỗ được cấp tốc khiêng ra trước hiên Đài phát thanh, Thầy và ông Tỉnh trưởng leo lên, đứng cao cho mọi người nhìn thấy.
Thầy hỏi, ông Tỉnh trưởng lắc đầu không hề ra lệnh cho xe tăng, quân đội và xe vòi rồng đến đàn áp. Thế là quá rõ, ông Tỉnh trưởng cũng thấy tự mình không có chút quyền lực, “Thầy Hội trưởng” muốn khuyên Phật tử giữ trật tự cũng không ai nghe được trong cảnh quá hỗn loạn với một rừng người đang xô đẩy nhau không kịp vuốt mặt., tóc tai áo quần ướt sũng bằng nước thúi. Xe thiết giáp nối đuôi nhau ùn ùn cán đại vào biển người, tiếp theo là tiếng súng nổ, tiếng lựu đạn, một chiếc xe có lính, có súng đã vào gần hiên chính của Đài phát thanh, một quả lựu đạn liệng ngay vào chỗ “Thầy Hội trưởng” và ông Tỉnh trưởng đứng, quả lựu đạn đụng phải cái “con xơn” đỡ mái ngói nên dội ngược trở ra và nổ ngay trên không, may sao lúc này Thầy và ông Tỉnh trưởng đã lui vào phòng ghi âm. Tôi chạy theo, và thầy trò, kể cả Hòa thượng Mật Nguyện, anh Lê Văn Dũng và vài nhân viên ngồi xuống giữa nền nhà, còn ông Tỉnh trưởng đi lui đi tới trong phòng nét mặt lo lắng, căng thẳng, suy nghĩ và lẩm bẩm: “Ai ra lệnh, họ muốn giết cả thầy lẫn trò”. (Tôi cam đoan điều này không ai biết và chưa từng tiết lộ). Riêng “Thầy Hội trưởng” tuy phong thái vẫn bình tĩnh nhưng không giấu được vẻ lo lắng, sầu não…
Vài phút sau, tiếng xịt nước, âm thanh huyên náo ồn ào hoảng loạn lùi dần ra xa, chung quanh Đài phát thanh một bầu không khí tanh nồng, lặng lẽ, những người lính chạy tới chạy lui như những bóng ma, những chiếc xe thiết giáp nằm im ở các ngã đường.
Cửa phòng hé mở, một nhân viên của Đài phát thanh đi ra đứng nhìn quanh một lát chạy vào đến nói nhỏ vào tai ông Tỉnh trưởng với vẻ hốt hoảng: “Chết, chết nhiều lắm, bị thương nằm la liệt khắp nơi”, ông Tỉnh trưởng rùng mình hoảng hốt, Thầy Hội trưởng thở dài đứng lên. Ông Tỉnh trưởng đến bên Thầy nói nhỏ: “Con đâu ngờ, con đâu có ra lệnh, bây giờ làm sao Thầy?”. Thầy im lặng, quắc mắt. Không khí im lặng, nặng nề, xe cứu thương hú còi chạy tới, Thầy bảo ông Tỉnh trưởng: “Sau phút kinh hoàng, họ sẽ trở lại, ông chuẩn bị xe thông tin có loa phát thanh rồi đi với tôi”.
Thầy trò chúng tôi bước ra khỏi phòng, nhìn quanh, ôi chao, một cảnh tượng khủng khiếp, thây chết nằm la liệt, có người bị xe tăng nghiền nát đầu, có người bị thương đang quằn quại rên khóc, guốc dép ngỗn ngang, như một bãi chiến trường, trên tường Đài phát thanh từng mảng thịt tươi rói bám vào tường, có mấy mảng thịt còn dính cả chòm tóc. Y tá đang khiêng người bị thương để lên xe cấp cứu, những người lính cầm súng đứng nép vào các gốc cây hay tựa lưng vào các cột của giàn hoa công viên, nét mặt vẫn còn ngỡ ngàng ngơ ngáo, thiếu tá Đặng Sĩ, Phó Tỉnh trưởng nội an, người chỉ huy cuộc đàn áp đẫm máu, chạy tới chạy lui, thúc đẩy thuộc hạ chuẩn bị đối phó với từng đoàn người đang lũ lượt kéo nhau trở lại Đài phát thanh.
Đúng như “Thầy Hội trưởng” dự đoán. Sau phút kinh hoàng, làn sóng Phật tử chạy tán loạn khắp các ngõ để tránh xe tăng, thiết giáp, xe xịt nước, lựu đạn, súng ống. Bây giờ, họ lấy lại bình tĩnh, kết lại từng đoàn, cầm cờ Phật giáo kéo nhau trở lại Đài phát thanh “Tìm Thầy” miệng không ngớt la to các khẩu hiệu:
“Đả đảo chính sách bất công gian ác – Đả đảo”
“Đả đảo sự đàn áp dã man – Đả đảo”
“Tinh thần đấu tranh của Phật giáo đồ bất diệt – Bất diệt”.
Họ kéo từng đoàn, nam phụ lão ấu có đủ – từ Nam Giao xuống, từ Đập Đá lên, từ An Cựu qua, từ chợ Đông Ba vượt cầu Trường Tiền đến, với một khí thế đấu tranh hừng hực, sẵn sàng đổ máu, sẵn sàng hy sinh.
Quân đội và xe tăng thiết giáp, xe vòi rồng hầu như thúc thủ, cảm động nhất là có người hét lên khan cả cổ: “Thầy tui đâu? Chúng tôi trở lại tìm Thầy”.
Từng làn sóng người kéo trở lại Đài phát thanh, không một sức mạnh nào ngăn nổi, các khẩu súng co vòi đứng im, các chiếc xe thiết giáp hầu như tê liệt nằm im trên các góc đường, Thầy và ông Tỉnh trưởng đứng trên mui xe thông tin. Chiếc áo đà trong đêm bên cạnh bộ com lê trắng của ông Tỉnh trưởng, chỉ có hai người đứng trên mui xe. Thầy cầm micro ra lệnh các Phật tử trở về nhà đợi lệnh của Hội, ông Tỉnh trưởng tay cầm cái mũ phất ngơ ngác đứng cạnh Thầy như một đứa trẻ con.
Xe chạy khắp các ngã đường để Thầy khuyên Phật tử giải tán về nhà, đợi lệnh. Tiếng Thầy sang sảng phát ra với bốn chiếc loa sắt hướng bốn phía, có người trèo lên xe sờ cho được cái chân của Thầy: “Đúng là Thầy, Thầy chưa chết, chúng con nghe lời Thầy về nhà, đợi lệnh”.
Hết đường này, qua đường khác, bốn hướng: Đông, Tây, Nam, Bắc, xe Thầy đến đâu là đoàn người tự động giải tán im lặng trở về nhà. Trong lúc xe cứu thương chở xác chết, chở người bị thương lên bệnh viện.
Khi đi, từ chùa Từ Đàm xuống Đài phát thanh chỉ có 3 thầy trò, Thầy, tôi (thị giả) và anh Phúng lùn lùn lái chiếc xe 404 của Tỉnh hội, khi chạy vào phòng ghi âm của Đài phát thanh, tôi theo sát Thầy vì vừa là thị giả để Thầy sai vặt và thâm ý, tôi nguyện bảo vệ Thầy dù Thầy chẳng cần mà cũng chẳng bảo như thế.
Do đó, trong suốt thời gian này tôi theo sát bên Thầy nên chứng kiến nhiều điều ít ai biết, như cuộc điện đàm với ông Tỉnh trưởng, rồi Thầy ra lệnh mở lối cho ông vào gặp Thầy, Thầy bảo ông Giám đốc Đài phát thanh bắt máy phóng thanh để Thầy khuyên dạy tín đồ và thấy rõ lựu đạn từ trên xe thiết giáp liệng vào chỗ Thầy và ông Tỉnh trưởng đứng, và trong suốt mấy mươi phút nặng nề trong phòng ghi âm của Đài mà ở ngoài Thiếu tá Đặng Sĩ điểu khiển vụ thảm sát, khủng bố đàn áp Phật giáo đồ.
Khi rời khỏi Đài phát thanh Thầy đứng trên mui xe thông tin để khuyên Phật tử giải tán, Thầy chỉ quay qua tôi nói mấy chữ: “Con về chùa trước đợi Thầy”, rồi lên xe với ông Tỉnh trưởng.
Vâng lời, trước khi cuốc bộ từ Đài phát thanh lên Từ Đàm tôi còn nán theo sau xe Thầy, ra đến đầu cầu Tràng Tiền, chứng kiến cái tình cảm thiêng liêng Phật giáo đồ ở Huế dành cho Thầy.
*
* *
Về chùa Từ Đàm, không khí cũng quá nặng nề, tôi tắm rửa qua loa rồi bắt ghế bố nằm trước cửa phòng của Thầy, chờ đợi, Hòa thượng Thiện Siêu lo lắng, bồn chồn, đi tới, đi lui, hỏi tôi: “Con thấy chết có nhiều không? Thầy con có nguy hiểm lắm không? Thầy Mật Nguyện và anh Dũng lúc lựu đạn nổ ở đâu…”. Thấy sao nói vậy, những gì không biết tôi im lặng. Thầy Thiện Siêu tỏ vẻ rất bức xúc, đau buồn.
Đến 2 giờ sáng Thầy tôi mới về đến chùa, nét mặt đăm chiêu, buồn bã, người quá mệt nên bơ phờ.
Trước khi vào phòng nằm nghỉ, Thầy nói với tôi hai điều:
- Họ sẽ đổ thừa việc chết chóc này cho C.S.
- Ông Tỉnh trưởng sẽ lên tìm Thầy để thương lượng, Thầy đồng ý mới cho vào.
Quả nhiên hai điều tiên liệu của Thầy rất chính xác…
Phật Ân Tự, mùa Phật đản 2557
Thích Khinh An
Lời Cuối Sách
Trong một giấc mơ thấy bạn bè, em út đã chết vì Phật giáo, thức giấc, tôi tác ý viết quyển sách nhỏ này để kỷ niệm 50 năm cuộc tranh đấu của Phật giáo.
Khởi viết và kết thúc chỉ có 10 ngày, từ ngày 06 đến ngày 16 tháng 3 AL (15 đến 25/04/2013), vì sắp đến ngày Phật đản, tài liệu thiếu, trí nhớ kém, sức khỏe yếu, mà tâm ý thôi thúc từng giờ.
Cuộc đời, vô thường tấn tốc, chết rồi, còn gì! Góp với đời, hậu thế nên biết, cần biết những gì phải biết, nhưng ai nói cho mà biết, điều khác là “đừng biết sai” vì sự móp méo của sách vở, của cơ tâm xấu xa lợi dụng để đầu độc, để mưu đồ bất chính.
Tôi chúa ghét nói láo, nói thêm, nói sai – thà đừng nói.
Vậy nên… Chấm hết.
Thích Khinh An