Thứ Tư, ngày 14 tháng 10 năm 2026

Nguyên Phong Phật Ân

Trang nhà chùa Phật Ân – Ngôi Già-lam hồn Việt

Cha Tôi

Di Ngôn (Phần 1)

Tùng Lãnh tiên sinh tạ thế rồi !

Để bao ký ức lại trên đời.

Khối tình mang xuống cô vui vẻ,

Chút nghĩa còn đây dượng ngậm ngùi.

Nhóm họ(1) nhóm làng(2) già kiếm trẻ,

Tu thân(3) tu đạo(4) trẻ nhờ ai?

Nha Trang yên giấc muôn nghìn thuở,

Cõi Phật hồn thiêng an lạc hoài.

Huế, Xuân Mậu Thân 1968

Tương Thủy NGUYỄN XUÂN TIÊU

Thi hữu Bình Hương luống ngậm ngùi,

Nghe tin Tùng Lãnh lánh trần ai.

Hải hồ chén rượu vùi theo đất

Phong nguyệt hồn thơ phó mặc người.

Những ước thần kinh mau trở lại,

Ai ngờ tiên cảnh vội xa chơi.

Chương đài gốc liễu còn trơ đó,

Mà bóng Tùng quân đã khuất rồi.

HƯƠNG BÌNH THI HỮU

Quì Ưu NGUYỄN ĐÔN DƯ Khốc bái.

Vạn pháp vô thường, sanh tử là luật chung của vạn vật. Trước khi nhắm mắt, cha nhắc nhủ con, cháu, dâu rể, cháu chắt nội ngoại phải ghi nhớ những điều sau đây:

  • Với ông bà Tổ tiên: Cố làm sao cho rạng mặt Đoàn Gia, ghi nhận công ơn Tiên Tổ. Cây có gốc, nước có nguồn. Đừng bao giờ làm mất thanh danh Đoàn tộc.
  • Với quốc gia xã hội: Dù phước quả hay nghiệp duyên, sinh ra và sống trong lòng đất Việt, phải chung sự vinh nhục với quốc dân, yêu nước, thương đồng bào. Góp sức kiến quốc thời bình, gắng công cứu quốc thời chiến. Sâu dân mọt nước, giá áo túi cơm là hành động của bọn côn đồ, giòng máu Đoàn Gia không thể có. Gương tổ tiên Đoàn Trung, Đoàn Trực phải được soi chung.
  • Với mẹ các con: Dù không nói, bổn phận các con cũng phải cung phụng các bà để đền đáp công ơn sinh dưỡng.
  • Với anh chị em: Duyên nghiệp gắn bó làm con một cha, thương yêu, đùm bọc, nâng đỡ nhau mà sống nhất là những lúc hoạn nạn. Gia tài của cha để lại đã có phần mỗi đứa. Đa số trai gái đều lớn khôn, có gia thất sự nghiệp vững vàng. Gái có Hơn và Diệm còn nghèo vật chất các con cần lưu tâm giúp đỡ. Trai chỉ có Điệp cha đã giao hẳn cho Thượng tọa Trí Quang. 4 đứa gái út Diệu Lý, Diệu Uyển, Tường Vy, Minh Châu các con phải lo về tương lai cho chúng. Ngoài ra, cha còn hai đứa con trai năm nay trên 20 tuổi bị kẹt ở Hà Nội con của bà Lý Thị Phương Mai ở Hàng Buồm. Nếu hòa bình vãn hồi các con cố tìm hai đứa ấy.
  • Với đạo pháp: Sống ở đời không thể làm một con người vô đạo. Phật giáo là nơi duy nhất các con phải đến, phải học, phải phụng thờ quy ngưỡng. Ngoài Phật giáo ra không được theo một tôn giáo nào khác. Đứa nào cãi lời phải lập hội đồng gia tộc mà khuyên răn.

Sau khi cha mất:

  • Phải tuyệt đối tuân hành đúng lời di huấn.
  • Mời Thượng tọa Trí Nghiêm và chư ĐĐ ở PHV/NT hộ niệm.
  • Đánh điện cho Thượng tọa Trí Thủ hay.
  • Không được làm đám linh đình, tốn kém vô ích, cấm tuyệt đối việc giết hại sinh vật để cúng bái.
  • Tụng kinh, ăn chay đúng 49 ngày.
  • Mọi việc khác giao cho Gia Trưởng Đoàn Đình Liêu định đoạt

Nha Trang, ngày… tháng… năm 1968*

Cụ Tâm Chánh “Ư-C” đã viết tiểu sử về cha tôi có lắm điều mà khi cụ kể lại hoặc tôi kể cụ cười bảo “tôi để dành phần chi tiết đó cho anh, tôi cũng khuyên anh chép lại và rất nên chép lại, để làm gì, cho ai, thì cái đó còn tùy”.

Xem cụ như cha và cũng được các anh tôi bảo. Tôi vâng lời “RẤT NÊN CHÉP LẠI, ĐỂ LÀM GÌ, CHO AI, THÌ CÁI ĐÓ CÒN TÙY”.

Tùng Sơn

Đoàn Đình Điệp

1.

Cuộc đời chính trị của cha tôi không như bao chính khách khác, không lên voi xuống chó mà cũng chẳng trèo cao té nặng vì không bao giờ “đầu cơ” mà luôn luôn đứng về phía nhân dân sẵn sàng chấp nhận mọi thiệt hại về vật chất, bị đe dọa về tinh thần và gian lao về thể xác. Nhưng cái may mắn là thiện nghiệp khá dày nên suốt đời cuộc sống vẫn sung túc vui khỏe cho đến lúc lâm chung.

Lúc hoạt động bí mật chống Pháp dưới sự lãnh đạo của cụ Phan Bội Châu, có lần viên khâm sứ Pháp mời đến tham vấn, khi đã bắt giam cụ Phan. Sau đây là mẫu đối thoại:

  • Có phải ông là đồ đệ của cụ Phan Bội Châu không?
  • Đâu có một mình tôi, cả toàn thể dân tộc Việt Nam chớ.
  • Các ông có biết chống lại chính phủ bảo hộ là hành động dại khờ và nguy hiểm không?
  • Thưa ông, nếu sợ nguy hiểm chúng tôi đã không làm. Còn thế nào là dại khờ? Chấp nhận nô lệ, cúi đầu chịu mất nước là thái độ khôn ngoan sao?
  • Ông ngoan cố lắm nhưng liệu các ông có chống nổi chúng tôi không?

Viên khâm sứ cười, hỏi tiếp:

  • Các ông lấy gì để chống với súng ống tối tân và binh lính thiện chiến của chúng tôi?
  • Chúng tôi có bàn tay, và khối óc, nhất là tinh thần bất khuất của dân tộc Việt.
  • Trước mặt tôi, nói thế ông không sợ sao?
  • Dấu diếm làm chi khi các ông đã biết rõ tất cả, lúc đến đây tôi đã chuẩn bị vào khám rồi mà.
  • Ông lầm rồi, mời ông tôi không có ý bắt, dù sao thì cũng còn có Nam triều, hơn nữa ông nguyên là Tỉnh hạt hội viên, những người tôi kính nể, tôi chỉ muốn các ông hợp tác, bằng không cũng đừng chống đối lại đường lối của chính phủ tôi.
  • Chúng tôi sẽ không bao giờ chống lại nếu các ông không xâm phạm quyền lợi và nền độc lập của dân tộc tôi.

Về nhà, các bạn đến thăm, cha tôi cười nói: “Biết chắc là nó không bắt nên nói cứng cho vui vậy thôi chứ trong bụng cũng ngán lắm chớ”.

2.

Nhắc đến năm 1947–1948 ai cũng kinh khiếp chính sách “giết lầm hơn bỏ sót”, không đêm nào mà không có những vụ chém chặt, cắt đầu, vằm thây hoặc chôn sống, dĩ nhiên đáng tội cũng có mà oan ức không phải là không. Muốn trả lễ, người Pháp cũng chủ trương bắn giết không gớm tay. Chung qui chỉ có dân lành là nạn nhân chính của cả hai bên. Cũng chính vì thế mà cha tôi đã phải ra làm lý trưởng 7 lần trong 1 năm.

3.

Nhận con dấu tại quận đường Phú Vang về chưa quá 24 giờ. Tối hôm đó Việt Minh gõ cửa vào nhà, cha tôi thản nhiên hỏi:

  • Bắt, giết hay thâu dấu?

Mấy anh chàng Việt Minh bật cười:

  • Bác mới nhậm chức hồi trưa, chưa làm gì hại dân nên chúng tôi chỉ thâu dấu chứ không giết.
  • Nếu giết thì tôi mặc áo điều, bắt đi thì mặc áo ấm, còn nếu thâu dấu thì có sẵn đây.

Cha tôi mở tủ trao dấu cho họ rồi “tạm biệt” đóng cửa ngủ, sáng sớm đi trình quận để nhận con dấu khác hoặc bị cách chức. Liên tiếp 2, 3 lần như vậy, viên quận trưởng phàn nàn:

  • Đã mấy lần bị nó thâu dấu, bác không làm sao giữ được trong vài tháng sao?
  • Ngay cái mạng đây còn giữ không được, chúng mượn lúc nào cũng được huống chi dấu. Thương dân, không ai làm tôi phải làm chứ có sung sướng gì đâu. Nếu ông tiếc thì thôi vậy.

Sợ cha tôi từ chức, viên quận trưởng xuống giọng và bảo lính đi làm con dấu khác.

4.

Dân trong làng thường sinh kế ban đêm bằng nghề đánh cá và thường bị lính các đồn bắt giữ trong những cuộc hành quân. Mỗi lần có người bị bắt là thân nhân đến nhà nhờ đi lãnh, cha tôi không từ chối với bất cứ ai mà luôn luôn tỏ ra vui vẻ sốt sắng nữa.

Có lúc cấp bách, trời lạnh như băng, dân bị bắt tới réo gọi nửa đêm cha tôi cũng phải ra đi trước mờ sáng cho đến đon vì người Pháp và lính cò-măng-đô thường hay bắn người trước đồn vào lúc chào cờ buổi sáng để thị oai.

Một hôm, đến đồn Đài (Thuận An) đúng lúc hai người dân sắp bị bắn, cha tôi vào xin bảo lãnh, bảo đảm họ không phải là Việt Minh. Viên đồn trưởng hỏi:

  • Sao ông biết nó không phải là Việt Minh?
  • Tôi biết chắc lắm, nó không những là kẻ dân lành mà còn cháu gọi tôi bằng bác nữa.
  • Ông lý có đoan chắc không?
  • Chắc 100%.
  • Nếu tôi trưng bằng chứng nó là Việt Minh ông lý nghĩ thế nào?

Biết tính người Pháp, không do dự, còn tỏ vẻ cương quyết:

  • Nếu có bằng chứng tôi xin chịu tội.

Người Pháp rất tin tưởng trước thái độ cương quyết, cười bảo:

  • Thử ông lý đó, tôi định dọa cho nó sợ thôi chứ không có ý bắn thiệt.

Hai người dân được tha, mừng rỡ lạy như tế sao. Cha tôi bảo:

  • Bây là dân làng, tau có bổn phận đùm bọc che chở, nếu biết ơn bây chỉ cần ăn ở hiền lương, lo làm ăn nuôi con vợ đừng làm những gì bất nhân, bất nghĩa gây tai họa cho bà con xóm làng là được.

Những trường hợp tương tự xảy ra rất thường, các viên đồn trưởng Sư Lỗ, Mai Xuân, đồn Dừa, đồn Đài… gặp nhau thường nói: “cái ông lý An Truyền đúng là Việt Minh chê, chả làm được trò trống gì ngoài việc đi bảo lãnh dân về”, mà quả đúng vậy trong thời gian nếp mè lộn lạo ấy.

5.

Năm 1947–1948, cái năm mà hung thần ác quỷ hoành hành, không có đêm nào là không có người bị chém chặt, chôn sống (do Việt Minh) và cũng chẳng có ngày nào là dân không bị đốt nhà, cướp của, hiếp dâm (do người Pháp) còn chính phủ Việt Nam xem như vô quyền, bất lực. Dù được người Pháp nể và Việt Minh chê, hằng ngày thấy sự chết chóc nhiều quá và cũng dễ dàng quá nên ngán. Mỗi đêm trước khi đi ngủ đều có phòng thủ – lối phòng thủ ngộ nghĩnh nhất của cha tôi là tập trung chiêng, trống, phèng la treo khắp nhà lầu để làm khí giới và dùng chúng tôi làm lính cận vệ, lúc ấy chúng tôi mới 10, 12 tuổi. Mỗi lần có Việt Minh đến hỏi thăm, gọi cửa nhà dưới là tầng trên cha tôi biết, ông đánh thức chúng tôi dậy, mỗi đứa hai tay chụp ngay 2 cái dùi, gặp trống đánh trống, đụng chuông đánh chuông, mò nhằm phèng la đánh phèng. Với gần 5 cái phèng, 4 cái trống và 6 cái chiêng – thôi thì tha hồ cho chúng tôi đánh, lủng hay bể đách cần biết. Mãi đến bây giờ tôi cũng không rõ mục đích đánh để làm gì, nhưng lúc đó thì sau một trận làm rung làng chuyển quận bằng trống, chiêng, phèng la, Việt Minh bỏ đi mất không thèm gọi cửa nữa và dân lành hay lính trong đồn cũng không ai tới cả.

Vì thấy lối phòng thủ và chống giặc một cách khoa học của cha tôi nên thỉnh thoảng lính trong đồn giả Việt Minh gọi cửa, hay Việt Minh thật đến thăm chơi để được nghe một trận trống phèng inh tai, cười cho thoải mái.

Riêng chúng tôi cũng thấy thích vô cùng, vì được đánh phèng, đánh trống tha hồ, sướng tay, vui tai. Có lúc 5, 7 đêm chưa được đánh một lần là trong bụng cầu mong Việt Minh đến gõ cửa để được đánh trống chiêng cho đã.

6.

Bà nội kể lại cho chúng tôi nghe vài mẫu chuyện về cha lúc còn thanh niên, 12 tuổi còn đến chợ tìm bà lôi vú ra bú trước khi đi học. Sẵn sàng nhận một con cá đối đổi mất mấy sào ruộng hoặc bán vài mẫu ruộng để được nghe cô ca kỷ thỏ thẻ một đêm. Lúc thấy các quan phủ, quận ngồi xe có phu kéo về nhà cũng sắm xe nuôi phu kéo đi chơi cho bằng được.

Với bản tính gàn bướng, có một lần quận đường đòi đến xử một vụ gì đó, lúc đến, cha tôi chểm chệ ngồi trên chiếc xe kéo, phục sức như một ông hoàng: khăn đóng, áo gấm thêu, chân đi giày hạ, bảo phu kéo thẳng vào sân quận đường như xe bao nhiêu công chức và dĩ nhiên xe cha tôi bị chận lại, nổi giận, ông đại náo quận đường một trận rồi bỏ về và kết quả bị “phạt vi cảnh” 10 mẫu thượng đẳng điền.

Ai cũng ngán cái thời phong kiến ấy, nhưng cha tôi thì không. Bà nội tôi có hỏi, cha tôi cười trả lời “thấy nó bất công, quan liêu mà ghét nên chửi một trận cho khoái khẩu và cảnh cáo chơi, đáng chi 10 mẫu ruộng mà mạ lo”.


Gửi bình luận

↑