Đức Tin Phật Giáo – Thực Hiện Đức Tin

ĐỨC TIN PHẬT GIÁO
Người Phật tử tin không phải chỉ cúi đầu chấp nhận, không phải hiểu rõ đối tượng tín ngưỡng của mình là đủ, Phật giáo cũng không chấp nhận thái độ thụ động, ỷ lại vào đấng tối cao nào, dù đấng ấy là đức Phật. Nhưng vẫn chí thành, chí kính, tin vào luật nhân quả, vào thuyết duyên sinh vô ngã của Ngài.
Đức tin là một tác động có tính cách toàn diện, là đắm mình trong lý tưởng đang tôn thờ, sống trọn vẹn với lý tưởng ấy.
Người có đức tin chân chánh (chánh tín) là người đang bơi lội trong dòng sông trong mát chứ không phải là kẻ đứng ngắm vẻ đẹp để khen ngợi dòng sông. Đó là con đường tâm linh thể nghiệm. Bởi vì, TIN là một đức tính cần thiết mang lại hạnh phúc cho con người. Đó là quyền lợi, một thứ quyền lợi thiêng liêng cần thiết cho đời sống.
Một niềm tin chân chánh là một nguồn năng lực nuôi dưỡng tâm hồn, người không có niềm tin là kẻ bất hạnh, một tâm hồn cằn cỗi, chai đá, không bình thường, mất định hướng. Đức tin có khả năng chuyển hóa giúp con người thoát khỏi những trở ngại, rủi ro, đôi lúc còn tỏa ra chung quanh một cách linh diệu và hiệu nghiệm mà chỉ người có đức tin mới cảm nhận được.
Có hai đối tượng cần thiết để người Phật tử đặt niềm tin:
1. Tha lực :
Đây chính là huyền lực tâm linh giải thoát mà chư Phật, Bồ Tát đã chứng nhập. Huyền lực ấy được diễn tả qua kho tàng giáo điển Kinh, Luật, Luận (Thánh giáo lượng), lôi cuốn và nuôi dưỡng nhiều thế hệ nối tiếp nhau đóng vai trò truyền bá làm lợi ích cho nhân sinh, đó là những bậc chơn tu được tôn xưng là Hiền Thánh Tăng. Tha lực gia hộ cho người tin đạo vững tiến trên đường thể nhập. Đó là diệu dụng của tâm linh giải thoát. Điều này tự cổ chí kim không những có mà còn có nhiều biểu hiện minh xác tích cực cho những ai đặt đúng niềm tin.
2. Tự lực (phần chính yếu) :
Phật tử đặt niềm tin vào chính mình, vào năng lực đang tiềm tàng sẵn trong tâm hồn mình đã được đức Phật tuyên thuyết : “Nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh” đây là một chân lý tuyệt đối “Con người là một cá thể toàn vẹn, tự nó có giá trị tuyệt đối mà khỏi cần phải nhờ một ngoại lực nào gắn nhãn hiệu cho nó”.
Vì thế, người Phật tử phải nuôi dưỡng và duy trì đức tin thật kiên cố, với khả năng tự giác ngộ của chính mình; phải phát huy được năng lực tự nội (Phật tánh) để chiếu tỏa rực rỡ lên và hòa đồng với vũ trụ như chư Phật quá khứ đã phát huy, chư Phật hiện tại đang phát huy và chư Phật vị lai sẽ phát huy.
Tự lực nắm phần chủ đạo.
Tha lực hỗ trợ cho phần chủ đạo như gió trợ lực cho thuyền buồm và người lái thuyền mới là người định hướng.
THỰC HIỆN ĐỨC TIN
Khi đã có đức tin, người Phật tử phải thực hiện đức tin ấy mới gọi là tin, chứ không thể tin suông, chưa thể gọi là tin được. Vì tin chưa chắc đã hiểu, hiểu chưa chắc đã làm và làm chưa chắc đã đúng.
Ở đây, trong phạm vi nhỏ, giản lược: Tin Phật. Tín đồ đạo Phật, đức Phật chia làm bốn chúng : Hai chúng xuất gia là Tăng già, Tỳ Kheo (nam) và Tỳ Kheo ni (nữ); hai chúng tại gia là : Ưu Bà Tắc (nam) và Ưu Bà Di (nữ).
Ưu Bà Tắc cũng gọi là cận sự nam, hay nam cư sĩ (Thiện nam). Ưu Bà Di cũng gọi là cận sự nữ, hay nữ cư sĩ (Tín nữ).
Cư sĩ là những tín đồ Phật giáo đã Quy y Tam Bảo (quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng) có pháp danh và thọ trì năm giới cấm (không sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối và không uống rượu).
Sách Pháp Hoa Huyền Tán dịch nghĩa chữ “cư sĩ” là :
- Giữ đạo
- Điềm đạm
- Chứa đức
- Tri túc (ít ham muốn)
Tàu dịch âm của chữ Phạn “Kulapati” có nghĩa bao quát là :
- Có tiền của tài đức mà không tham gia thế sự.
- Ẩn dật không muốn làm quan.
- Có xu hướng tin và thực hành theo Phật.
Dịch nghĩa và quan niệm trên tuy không còn thích hợp với trào lưu mới nhưng chúng ta phải biết để thấy vị thế của mình khi tin và thực hành giáo lý đạo Phật trong đời sống của người cư sĩ.
Thông thường, Phật giáo Việt Nam định rằng : Bất cứ ai hễ có TÍN, TÂM, NGUYỆN tu theo những hạnh sơ đẳng của Phật giáo đều gọi là Cư sĩ.
Trong phạm vi bài này chúng tôi muốn đề cập người cư sĩ Phật giáo phải tu như thế nào để có lợi ích thiết thực.
Trước hết phải có một quan niệm đúng đắn về chữ TU.
Các vị xuất gia phát khởi đại nguyện cứu độ chúng sanh, cát ái từ thân, gia nhập Tăng đoàn, làm trưởng tử của Phật là những bậc thầy, dẫn dắt chúng sanh trên đường giác ngộ giải thoát.
Người cư sĩ còn thế duyên ràng buộc nên tu chỉ với nghĩa thông thường :
- Cái gì trái đạo lý sửa cho hợp đạo lý.
- Những phiền não trong gia đình sửa đổi cho được êm ấm hạnh phúc.
- Những gì tạo duyên tham đắm (sắc, tài, danh, lợi…) sửa đổi cho cuộc sống “Lạc đạo tri túc”.
Thấm nhuần đạo lý ấy tổ tiên ta thường dạy :
Thứ nhất là tu tại gia,
Thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa.
Lấy câu trên làm chuẩn, người cư sĩ đặt định một lối sống cho hợp thời, hợp cảnh, áp dụng giáo lý đức Phật ngay trong cuộc sống hằng ngày.
Tu tại gia tức là sửa đổi ngay trong gia đình, phải biết Phật hóa gia đình, có đại gia đình là bà con giòng họ nội ngoại xa gần, có tiểu gia đình là gồm vợ con, cha mẹ đang sống trong một nhà.
Gia đình là nền tảng của người cư sĩ mà trước hết, mỗi một chúng ta phải biết “Tu Thân, Tu Tâm” lấy ba pháp qui y và năm cấm giới làm căn bản mà đức Phật đã thương tưởng, thông cảm cho nghiệp dĩ và hoàn cảnh của người Phật tử tại gia mà chế định.
Phật dạy “Bể khổ mênh mông phải nương về Tam bảo, muốn thoát khỏi biển sanh tử luân hồi không thể bỏ qua sự thọ trì giới pháp”. Vì :
- Giới là thuyền từ đưa người qua biển khổ.
- Giới là đất bằng muôn vật từ đó phát sinh.
- Giới là ngọn đèn sáng chiếu phá mọi tối tăm.
- Giới là con đường tắt đưa đến cõi nhơn thiên.
- Giới là cửa ngõ đưa đến cảnh Niết Bàn an lạc.
Chúng sanh muốn dứt trừ khổ não, hưởng hạnh phúc an vui vô thượng thì phải thọ Tam Quy và trì Ngũ Giới.
Trước khi thọ giới phải thành tâm sám hối cho thân tâm được thanh tịnh, như muốn chứa vị cam lồ phải súc bình cho sạch sẽ.
Sám hối nghĩa là ăn năn, tự thú tội lỗi đã làm, nguyện chừa bỏ không tái phạm, biết chế ngự không cho tội lỗi phát sinh, ví như cái áo dơ đã được giặt sạch phải cố gắng giữ gìn đừng để dính dơ lần nữa. Khi thân tâm đã thanh tịnh mới thọ Tam Quy.
Con đường sanh tử luân hồi đã nhận chìm chúng ta trong nhiều kiếp, si mê lầm lạc trong nhiều đời, nay gặp được đạo vàng nên phát nguyện trở về, y cứ, nương tựa vào Tam bảo. Gọi là Quy y Tam bảo.
Tam Bảo là ba ngôi báu :
- Phật bảo : Tiếng Phạn là Bouddha, tàu dịch âm là Phật Đà, dịch nghĩa là Giác Giả, là đấng giác ngộ hoàn toàn, là vị đạo sư của mười phương pháp giới. Phật là một bảo hiệu cho tất cả các bậc đã tu hành giác ngộ.
- Pháp bảo : Là khuôn phép, là những lời Phật dạy trong tam tạng kinh điển (Kinh, Luật, Luận), y theo giáo pháp tu hành thì quyết định thoát ly sanh tử, chứng thành đạo quả, như kinh có dạy “Pháp là mẹ sinh ra chư Phật”.
- Tăng bảo : Là Tăng già, một tập thể sống, tu, học, thực hành pháp Phật, thay Phật hoằng truyền chánh pháp, hướng dẫn chúng sanh tu theo pháp Phật, phải có từ bốn (4) vị Tỳ Kheo trở lên, phải sống theo phép Lục Hòa, mới gọi là Tăng, thiếu các yếu tố trên thì không thể gọi là Tăng được.
Người cư sĩ nương tựa vào Phật, Pháp, Tăng như bệnh nhân nương tựa vào thuốc hay, thầy giỏi để giải trừ căn bệnh của thân tâm.
Tam Bảo có :
- Tối sơ Tam bảo :
- Tối sơ Phật bảo : Khi đức Thích Ca mới thành Phật.
- Tối sơ Pháp bảo : Khi đức Thích Ca thuyết pháp tứ đế đầu tiên tại vườn Lộc Uyển.
- Tối sơ Tăng bảo : Khi đức Thích Ca nhận năm (5) vị đệ tử xuất gia đầu tiên là các ông Kiều Trần Như, Thập Lịch, Ca Diếp…
- Trú trì Tam bảo :
- Trú trì Phật bảo : Là những ảnh tượng, xá lợi đang tôn thờ ở các chùa, tháp.
- Trú trì Pháp bảo : Là những kinh sách, luật bộ, luận giải mà tứ chúng của Phật đang thọ trì.
- Trú trì Tăng bảo : Là các bậc xuất gia, tu hành chơn chánh hiện đang sinh hoạt trong các Tăng đoàn, Giáo hội, Tăng già… trên thế giới.
- Đồng thể Tam bảo :
Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, có khả năng thành Phật, có khả năng nói pháp, học và hành theo chánh pháp, sống phạm hạnh như Tăng già.
Người cư sĩ Phật tử khi đã tự nguyện Quy y Tam bảo thì không được quy y thiên thần quỷ vật, không theo ngoại đạo tà giáo, không theo bạn bè xấu ác.
Chữ “TỰ” ở đây còn có nghĩa là “chính mình”, tức là trở về y cứ vào Phật, Pháp, Tăng trong chính mình. Quy y vào Tam bảo ở ngoài là tin vào tha lực, quy y vào Tam bảo chính mình là tin vào tự lực. Tự lực là điều rất quan trọng, như lời Phật dạy “Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi”, “Nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh”, “Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành”…
Người Phật tử khi thành tâm sám hối, là đám đất tốt được dọn sạch cỏ rác, cuốc xới đàng hoàng. Khi đã thọ Tam Quy là gieo trồng hạt giống tốt. Nhưng muốn hạt giống tốt phát triển thì phải rào giậu, vun quén, bảo quản tức là phải thọ trì giới cấm. Người Phật tử tại gia vì gia duyên ràng buộc, vì thế sự đa đoan nên khó thực hiện nhiều giới cấm như hàng xuất gia nên Phật chế ra năm điều răn cấm căn bản gọi là Ngũ Giới :
- Không được giết hại chúng sanh (chủ yếu con người).
- Không được trộm cắp, cướp giựt.
- Không được tà hạnh.
- Không được nói dối.
- Không được uống rượu và dùng các chất độc hại làm băng hoại thể xác và tinh thần.
Năm điều răn cấm trên đây người cư sĩ Phật tử phải thọ trì tu tập. Giữ trọn được năm cấm giới thì có nhân cách, khỏi sa đọa vào ác đạo. Năm giới cấm này cũng là căn bản cho Sa Di giới, Tỳ Kheo giới và Bồ Tát giới để đạt đến vô thượng Bồ Đề. Ví như muốn xây nhà nhiều tầng thì năm giới này là nền móng đầu tiên, quan trọng nhất, cần yếu nhất cho việc xây tiếp các tầng trên.
Người cư sĩ Phật tử khi đã thọ Tam Quy, trì Ngũ Giới do một lễ Quy y mà vị thầy (Bổn sư) đã thay mặt Tam bảo truyền trao giới pháp và đặt cho một cái tên gọi là pháp danh, chữ đầu của pháp danh theo dòng kệ của tông phái có một ý nghĩa thâm huyền, một tình cảm thiêng liêng, một thiện duyên liên hệ từ quá khứ, hiện tại và cả vị lai (mà người cư sĩ cần tìm hiểu để biết), khi ấy người cư sĩ mới chính thức dự vào một trong bốn chúng đệ tử của Phật và để xứng đáng là con Phật, người cư sĩ phải biết ăn chay, tụng kinh, niệm Phật, thiền quán và nhất là học, hành hoằng dương và bảo vệ chánh pháp (lý tưởng mà mình tôn thờ).
- Ăn chay :
Ăn chay là chỉ ăn rau trái, không ăn thịt cá hay các loại động vật khác (thọ trì giới bất sát), mục đích và lợi ích của ăn chay, lược giảng có :
- Huân tập và thực hiện hạnh Từ bi.
- Không vay nợ máu thịt chúng sanh.
- Thiểu dục trong cuộc sống.
- Thanh tịnh thân tâm.
- Hợp vệ sinh.
- Giảm thiểu phiền não, tiết kiệm kinh tế.
- Phát triển được trí tuệ.
- Thiện thần ủng hộ.
Người cư sĩ Phật tử khi chưa trường trai được thì ăn trai kỳ :
- Nhị trai, 1 tháng 2 ngày mồng 1 và 15.
- Tứ trai, 1 tháng 4 ngày, 1, 15, 30 và 14.
- Thập trai, 1 tháng 10 ngày, 1, 8, 14, 15, 18, 23, 24, 28, 29, 30.
Khi ăn chay phải cử ngũ vị tân : Hành, hẹ, nén, tỏi, tỏi tây, vì những thứ này ăn vào kích thích tham dục, nóng nảy, tiết ra mùi hôi hám.
- Niệm Phật :
Niệm là nhớ nghĩ, nhớ nghĩ đến chư Phật, Phật chính là chân tâm, không nhớ Phật là xa Phật, xa Phật tức tự tâm bị vô minh dẫn dắt, chạy theo trần cảnh, nhớ nghĩ đến Phật tức là hồi tâm hướng thượng, tức là gần Phật. Pháp môn niệm Phật không luận kẻ trí người ngu, không phân Tăng hay tục, không kể sang hèn, giàu nghèo, già trẻ, trai gái, tất cả đều có thể hành trì và thành tựu được cả. Ngài Văn Thù Bồ Tát nói : “Pháp môn niệm Phật là vua trong tất cả các pháp môn”. Ngài Mã Minh Đại Sĩ nói : “Chuyên tâm niệm Phật là phương tiện siêu thắng của Như Lai”. Diệu Hạnh Bồ Tát nói : “Pháp môn niệm Phật là tâm tông của chư Phật, là con đường tắt để giải thoát của mọi loài”.
Niệm Phật có nhiều cách nhưng tựu trung có ba (3) phương pháp chính yếu :
- Luân quán hay niệm châu.
- Sổ tức (điều hòa hơi thở).
- Quán tưởng.
Cả ba cách đều làm cho vọng tâm trong lắng khiến linh giác hiển lộ và hòa nhập vào cảnh giới an lạc, người hành trì tùy căn cơ mà tu tập (trạch pháp).
- Luân quán : Là môn niệm Phật lần tràng giản dị mà cũng lắm công phu vì mục đích niệm Phật là để đoạn trừ phiền não, thúc liễm thân tâm. Trong khi tâm chúng sanh thường là “tâm viên ý mã”, phiền não từng sát na dấy khởi biến động không ngừng, nếu muốn có hiệu quả phải nhất tâm bất loạn. Tràng hạt ngoài sự tính đếm còn biểu hiện cho công phu dứt trừ phiềnnão.
Đại để, phiền não có 108 món khác nhau nên tràng hạt có 108 hạt, về hình thức không nhất thiết phải đẹp, phải sang, phải quý mới có công đức mà cốt ở tâm ý lắng trong, đoạn tận phiền não. Phiền não do 6 căn nhiễm trược với 6 trần rồi phan duyên với 3 cảnh thành 36 cảnh tác động liên tục trong 3 thời = 108 phiền não.
| Căn | Trần | Cảnh | Thời |
| Mắt | Sắc | Xanh, đỏ… | |
| Tai | Thanh | Hay, dở… | Quá khứ |
| Mũi | Hương | Thơm, hôi… | |
| Lưỡi | Vị | Ngon, dở… | Hiện tại |
| Thân | Xúc | Mềm, cứng… | |
| Ý | Pháp | Cảm giác chung của 5 căn (cảm thọ) | Vị lai |
Sáu (6) căn + sáu (6) trần = 12 căn trần x 3 (ba) cảnh = 36 cảnh x 3 thời = 108.
108 phiền não còn được gọi là 108 kết tập hay 108 kết nghiệp. Kinh lần tràng còn nói tới 108 tôn vị.
Sự phân hiệu 108 tôn vị và 108 kết tập, kết nghiệp rất khó nhớ. Người cư sĩ Phật tử chú tâm niệm Phật chủ yếu là diệt trừ 108 phiền não do lục căn hiệp với lục trần tạo tác.
Chú tâm niệm danh hiệu Phật ứng hợp vào lục căn không cho căn thức nhiễm trược, không còn phân biệt ba cảnh, ba thời mới đoạn được phiền não.
2. Sổ tức (đếm hơi thở) :
Là phép niệm Phật để điều hòa hơi thở. Thực dụng phương pháp này để thanh lọc trọc khí trong người cho tâm thần thanh thản. Phương pháp niệm Phật này ích lợi vượt qua lãnh vực y lý, bảo vệ sức khỏe và loại trừ nhiều thân bệnh cũng như tâm bệnh.
3. Quán tưởng :
Niệm Phật quán tưởng phải có định lực vững vàng, phải hết sức kiên nhẫn, tập trung tư tưởng vào hình tượng chư Phật, tưởng nhớ đến hạnh nguyện các ngài, khóa sáu căn không cho sáu trần xâm nhập. Quán tưởng đến lúc nào đại định chứng được lục thông :
1/. Thiên nhãn thông : Thấy suốt mọi vật.
2/. Thiên nhĩ thông : Nghe và phân biệt rõ mọi âm thanh.
3/. Tha tâm thông : Giao cảm được với mọi người mọi vật.
4/. Túc mạng thông : Biết được quá khứ của mình và người.
5/. Thần túc thông : Đi bất cứ đâu theo ý.
6/. Lậu tận thông : Tâm trí hoàn toàn sáng suốt.
Tổ Thảo Đường dạy “Quán tâm vi tế như vô bất bản chi tuệ, hãn năng giai chứng”. Do đó, luyện pháp môn này tuy khó khăn nhưng khi được thuần thục rất dễ chứng đạo.
- Tụng kinh :
Đành rằng, hiểu sâu giáo lý, thông đạt kinh kệ, không lễ Phật cũng là lễ, không tụng kinh cũng đã hiểu kinh. Lý thì vậy mà sự thì được mấy ai ? Hơn nữa, tụng kinh là đọc lại những lời mà chư Phật Tổ đã dày công tu tập, chứng ngộ, di giáo lại cho chúng ta tu theo để mà trừ mê khai ngộ.
Người cư sĩ nhất là kẻ sơ cơ học đạo không nên vì một vài lý lẽ đơn điệu chưa thấu đáo mà có ý tưởng xem thường việc tụng kinh, niệm Phật, hay bài bác với lý lẽ không mấy thuyết phục như : “Thích Ca là chủ nhà, Di Đà là hàng xóm” hoặc “Độ sanh không độ tử” hay “Người còn sống không lo, lo gì cho kẻ đã chết”… Thật ra chư Phật ba đời, thiên bách ức hóa thân, niệm Thích Ca, niệm Di Đà có gì khác ? Ai là chủ ai là hàng xóm ! Cũng như “Độ sanh tức độ tử, độ tử tức độ sanh, không sanh làm gì có tử, không tử làm gì có sanh?” Vậy thì đặt vấn đề làm gì cho hoang mang rắc rối !
Khi tụng kinh, muốn có hiệu quả chúng ta phải nhớ :
- Miệng tụng tâm suy để phát huy trí tuệ.
- Phải thanh tịnh thân, miệng, ý nghiệp.
- Phải thành tâm kính ngưỡng.
]
Tùy căn cơ chúng sanh mà đức Phật giáo huấn, nên mỗi thứ kinh đều có ý nghĩa riêng nhưng cùng chung một mục đích “giải thoát sanh tử, chứng nhập Niết Bàn”. Kinh điển của chư Phật rộng rãi bao la, người cư sĩ Phật tử ít có thời gian, điều kiện để đọc tụng các kinh như Hoa Nghiêm, Đại Bát Nhã, Đại Bảo Tích… vừa có ý nghĩa thâm huyền, vừa dài nên đa số đọc tụng