Tân Mão Cảm Tác

TÂN MÃO CẢM TÁC
(điệu ca trù)
Tý hư, sửu hao, dần bất lợi
Dần hết rồi Tân mão tới năm nay
Rượu chào xuân say tỉnh tỉnh say
Gẫm thế sự cuộc cờ vay nào khác
Thành thị tiếng ca chen tiếng hát
Thôn quê lo vắn lại lo dài
Bom bay đạn lạc rủi may ai
Nhắm mắt lại chạy miết dài chẳng đoái
Địa ngục thiên đàng phân cảnh giới
Đồng bào dị vực bội thương tâm
Mái tóc này đã trót bạc hoa râm
Chán cuộc thế muốn câm và muốn điếc
Hang cọp ra vào lo chẳng xiết
Trốt voi ngồi đứng sợ không an
Bên thì cờ đỏ sao vàng
Bên thì cờ vạch quẻ vàng tranh đấu mãi
Bì oa chữ đục lưu thiên tải
Xuyên huyết xuyên bài khủng vô nhơn
Có hay chi chát hận cưu hờn
Nhắm mắt lại giang sơn đành phó mặc
Thuyết đáo sa trường miên bất đắc
Thái bình cảnh tượng mộng thành chơn
Khuyên ai hòa giải là hơn.
NHỚ NGƯỜI YÊU
(điệu ca trù)
Lúc chia gót xui lòng bận bịu,
Bởi yêu hoa nên dang díu với tình
Giả đò ngoảnh mặt làm thinh,
Ôm gối phụng năm canh gà vịt ngủ.
Đầu ngành hót thấp cao rỉ rủ,
Đỗ quyên dường bạn cũ cùng ta,
Mái tây hiên bóng nguyệt tà tà
Cửa phòng mở, vào ra đi với đứng
Rượu tiêu khiển nghiêng hồ uống gắng,
Uống li bì chẳng biết tỉnh là say,
Vì ai nên nổi nước này.
TỰ VỊNH 53 TUỔI
(điệu ca trù)
An phận thân vô dục
Xuân thu năm nay chục lẻ năm trời
Chúng non mặt nước theo đòi,
Sực nhớ lại cuộc đời thêm quá ngán.
Nhơn sanh thụ yểu vô kỳ hạn,
Thời ngô cùng thông phú tự nhiên.
Tội chi mà lòn lỏi cửa quyền,
Giữa trời đất ngữa nghiêng mình một đứa.
Ai y châu kìa ai Sào hứa,
Bụi trần ai, ai rửa mặt ai không,
Đã đành hai chữ thông dung.
HUẾ – 1943
Nước sông Hương trong vắt,
Núi Ngự Bình chồng chất cây cao,
Cầu Trường Tiền xe ngựa luôn lao,
Bến đập đá lao xao người qua lại
Chùa Diệu Đế tiếng chuông nghe rải rải,
Cửa Ngọ Môn hồi trống dục ầm ầm.
Pháo thượng thành tiếng nổ dậy non sông
Tòa khâm sứ cờ chong vàng đỏ trắng,
Ca hát nhảy trò chơi đã sẵn,
Tàu xe thuyền dạo thẳng ngày đêm,
Thần kinh ai thấy cũng thèm.
THƠ ĐIẾU
CỤ NGUYỄN TƯỜNG TAM
bút hiệu NHẤT LINH
Mấy ai như cụ Nguyễn Tường Tam
Đúng mặt anh hùng nước Việt Nam
Tủi phận sanh nhằm thời Pháp mạt,
Vuốt nư khóc tủi bạn tâm đàm.
Sống chung một đất thân càng khổ,
Chết rẽ hai trời thế mới cam.
Tâm sự chìm ngầm sanh vãn nổi,
Mấy ai như cụ Nguyễn Tường Tam.
73 TUỔI TỰ VỊNH
Năm nay tuổi đã bảy mươi ba,
Xuân cứ lần lừa bạn với ta
Đỏ nhuộm màu da ươm thuốc trẻ,
Bạc soi mái tóc ngỡ gương già.
Tuổi thêm riêng thẹn cùng non nước.
Xuân mới chung đùa với cỏ hoa.
Lấy ảnh năm nay so ảnh cũ,
Mười phần sắc sảo vẫn chưa tra.
NGUYÊN ĐÁN
Mừng nay năm mới khí trời hòa,
Đảy cũ phong lưu cứ mở ra.
Dặm liễu tìm hương vui với trẻ,
Rượu đào cụng chén sức chưa già.
Nghìn vàng đêm báu mun mơn nguyệt
Chín chục xuân dài giỡn cợt hoa
Thử lấy gương soi so ảnh trước,
Ngỡ đây đã đúng bậc ông cha.
Họa bài
TỂ TƯỚNG NAM THÀNH *
Coi rẻ như không vị đại thần,
Nâng cao trình độ của muôn dân.
Xương tàn một nắm còn yêu nước,
Đường hiểm nghìn trùng chẳng quản thân.
Ổ lưới tùng quyền xưa túng rối,
Lên đài độc lập dịp hoan hân.
Trời cao nỡ phụ người kim ngọc,
Có phước rồi đây sẽ có phần.
VỊNH ĐI CHÙA
(thủ vỹ 3 bài)
Hỡi anh em hỡi chị em ơi,
Cửa Phật gần đây phải tới nơi.
Chuông kỉnh tỉnh khua vang quả đất
Nước dương chi rưới tắt bầu trời.
Đeo vòng danh lợi thêm ràng buộc,
Mang chuỗi Bồ đề được thảnh thơi.
Tình sợi giây oan tu cội phúc
Hỡi anh em hỡi chị em ơi.
*
Hỡi anh em hỡi chị em ơi,
Đã một lòng tu chớ đổi hai.
Vướng nợ trần phàm đời vắng chốc,
Gá duyên Phật thánh kiếp lâu dài.
Duyên lành trước đã gây nên hẳn,
Quả phước sau này kết chẳng sai.
Giấc mộng say mê nên chợt tỉnh,
Hỡi anh em hỡi chị em ơi.
*
Hỡi anh em hỡi chị em ơi,
Níu được buồm lành chớ khá lơi.
Ước hẹn Tam quy ghi dạ một,
Giữ gìn ngũ giới dám hòng hai.
Vào nơi bể khổ đau nhiều đoạn,
Dựa chốn tòa sen khỏe trọn đời.
Phải biết tu hành lành nối gót,
Hỡi anh em hỡi chị em ơi.
NGỤC TRUNG BI THU
(Điệu thi thất ngôn)
Riêng một trời thu vẫn trẻ thơ
Giọt sương đeo nặng lá đu đưa,
Đoàn ve cổ thụ còn ngâm mãi,
Làng cúc đông ly đã nở chưa.
Lóng lánh trăng nhòm tâm sự cũ,
Vi veo gió chặm cảnh tình xưa.
Một ngày dài dặt ba thu lẻ,
Xui khiến cho người dậm giấc trưa.
NGƯ TRIỀU CANH MỤC
Ngư Triều Canh Mục
Biết ai ai là tục là tiên
Ngư xê xoang trăng gió chở lưng thuyền
Triều đủng đỉnh nước non chuyền một gánh.
Canh nhắm nhía tùng quân muôn rạnh,
Mục vui chơi phong cảnh bốn mùa.
Thu thiên nhiên nào mất trự tiền mua
Trường danh lợi mặc dầu thua với được
Lục thủy thanh sơn như hữu ước,
Gia ba đề đảo nhứt bang xuân.
Thế gian tiễn đắt như quân.
VỊNH TÚY ÔNG
Nhơn sanh hữu tửu tu đương túy
Nhứt tích hà tằng đáo cửu truyền.
Rượu đầy hồ khê hát ngữa nghiêng,
Cửa phú quý lợi quyền nào có biết
Một đôi chữ văn chương lá mít,
Năm mươi điều lý sự quạt mo,
Hoàn cầu thử hỏi ai to?
Đánh vài cốc trời đất coi nhỏ rí.
Bách niên mạc tích nhứt hồi túy,
Sổ tảng năng tiêu vạn cổ sầu,
Lưu linh là bạn tâm đầu.
NGỤC TRUNG TỰ THÁN
Phi kỳ tội đã
Cớ sao mà vất vả chốn lao lung,
Phải trời xanh ghen ghét với anh hùng,
Xui thân thể bạn bè cùng lam chướng.
Xuôi giòng nước chảy ngày sung sướng,
Buộc cẳng đòi cao dặm tới lui.
Chốn thôn quê vát mặt ngó bùi ngùi,
Ngày hai buổi chán chê mùi sơn dạ.
Lạc lạc cốc âm sầu mạc tả,
Thử thân phó tự địa thiên tri,
Tháo lòng mở củi có khi.
BỊ TÙ NAM ĐÔNG
Lên non xanh mà chưa thấy rõ trời xanh
Cười tóc bạc mà còn vương phận bạc,
Chẳng qua là quá phong lưu phải chịu kiếp phong trần
Thiếu khổ hạnh phải mang cơn khổ sở
Tuổi đã già thân đã yếu
Nắm xương tàn như quả chín trên cây,
Cơn sống sót như đèn lờ giữa gió.
Sống cũng vậy mà chết đi cũng vậy,
Nói ai nghe mà năn nỉ ai thương.
Quân tử thất thời lo xuống ghế,
Tiểu nhân đắc chí cứ lên tay.
Cơn biến loạn rủi may nào có kể
Cuộc phù sinh sống chết kể mà chi.
Sách có câu:
Long du thiểu thủy tao hà lý
Hổ lạc bình sa bị khuyển khi.
Ô hô, y hỷ tử kỳ tương chí
Lạc hô thiên mạng phục hồ nghi.
TỰ THUẬT
(điệu ca trù)
Nhơn sanh hà lạc dĩ
Cuộc ở đời thích chí ấy là sang
Tháng năm trời mãi mãi thanh nhàn
Không hầu bá cũng ngang tàng trong vũ trụ
Vạn lý giang san thùy thị chủ
Nhứt thiên phong nguyệt ngả vi quân.
Mua vui đã sẵn khách hồng quân,
Tài với sắc bâng khuâng yêu dấu mãi.
Căm tức nổi thanh xuân nan tái,
Giả ngây ngây dại dại với tình,
Một mình mình biết một mình.
BI THU
Tiếng thu rào rạt canh thâu,
Mưa thu lác đác gió thu lạnh lùng.
Thảo am một nóc thung dung,
Khi riêng kinh kệ khi chung thi đàn.
Trước sân mấy chậu cúc vàng,
Muôn hồng ngàn tía cũng phường đồng tâm.
Đầu khe suối đổ ì ầm,
Chim tìm bạn cũ vượn ngâm thái bình.
Mập mờ ló ngọn đèn xanh,
Bóng chen lấp loáng bức mành sơ sơ.
Phòng không lạnh ngắt như tờ,
Ve ngâm rế hót trăng lờ mờ lay.
Trời đương mù mịt sương bay,
Riêng người người biết mình hay riêng mình.
Đôi khi lên thác xuống gành,
Vui duyên non nước thỏa tình cỏ hoa.
Người đương mơ giấc sa đà,
Cùng ai mà nói nói mà ai nghe.
Mặc ai xe ngựa ngựa xe,
Chòm lau là bạn cụm tre là làng.
Có khi vui thú thanh nhàn,
Câu thi Lý Bạch ngón đàn Bá Nha.
Đâu đâu cũng đất nước nhà,
Trăng thanh gió mát chất đà đầy kho.
Đi về ngày tháng tự do,
Giang sơn một phía trời cho riêng mình.
Nguyền cho tất cả chúng sinh,
Ai ai cũng hưởng thái bình phước chung.
MỪNG TÂN NIÊN
Mừng năm Tân mão tới nơi,
Trăm hoa đua nở chào mời xí xăng.
Đầu ngành chim hót líu lăng,
Cỏ cây tươi tốt gấm giăng sơn hà.
Vật còn thế huống người ta,
Ghét ghen xin chớ thuận hòa là hơn.
Mấy năm gió bụi đòi cơn,
Khí oan đầy núi máu hờn dầy sông.
Cùng là con lạc cháu hồng,
Cũng là giọt máu tiên rồng chia ra.
Hay chi xáo thịt nồi da,
Hay chi bôi mặt gà nhà đá nhau.
Người nghèo khổ kẻ sang giàu,
Hỏi ai nối tóc sống lâu hai đời.
Mây tan tụ, nước lưng vơi,
Cuộc đời chẳng khác trò chơi tạm thời.
Ruột rà chia rẽ làm hai,
Cát vùi sóng lấp cậy tài mà chi.
Trèo non lặn suối ích gì,
Lên xe xuống ngựa sướng gì rứa ai?
Trường kỳ kháng chiến còn dài,
Người càng đau khổ khốn bài đào sanh.
Người đi chinh chiến đã đành,
Người không chinh chiến cũng thành đống tro.
Bên giam lỏng, bên giết càn,
Kìa ma lam chướng nọ làn đạn bom.
Nào người than khóc lom nhom,
Nào người ca hát từng chòm một hai.
Sinh linh đến bước lạc loài,
Hỡi người yêu nước lựa bài chiêu an.
Bịnh nguy phải lựa thuốc thang,
Mở pho hòa giải dẹp đoàn chiến tranh.
Đầu năm tháng tốt ngày lành,
Lối tre trừ cựu, chén quỳnh nghinh tân.