Thứ Năm, ngày 15 tháng 10 năm 2026

Nguyên Phong Phật Ân

Trang nhà chùa Phật Ân – Ngôi Già-lam hồn Việt

Cha Tôi

Di Ngôn (phần 2)

Đại khái đời sống cha tôi gàn bướng và phung phí chứa đựng tâm hồn nghệ sĩ, phóng khoáng như vậy và cũng chính vì thế mà trong lúc VM mở mặt trận kháng chiến chống Pháp, cha tôi bị liệt vào thành phần phú nông, tư bản dù đã có thành tích cách mạng.

Năm 1949–1951 gia đình tôi tản cư về Hà Trữ, nơi đây cha tôi bị kết án Việt gian, cường hào ác bá rồi bắt đi giam ở Nam Đông, nơi rừng thiêng nước độc. Lúc ấy độ khoảng 6 giờ chiều, cả gia đình do mẹ tôi dẫn về thăm nhà. Ở lại Hà Trữ chỉ có cha, tôi và anh Tư. Mấy cha con đang ngồi ăn cháo tấm nếp – thứ cháo mà cha tôi thích nhất. Ngoài đường có tiếng kêu gọi đồng bào về sân vận động Thanh Lam Bồ để xét xử mấy tên Việt gian, cha tôi bảo: “Ăn mau mà đi coi, nếu có kẻ làm tay sai cho Pháp, tau ghét quá, mạ bây đi lâu quá tau hơi nóng ruột…”. Nói chưa hết câu thì mấy tên công an bước vào mời cha tôi lên Ủy ban có việc, sau một chút ngạc nhiên, cha tôi lặng lẽ lấy áo mặc vào rồi theo họ, trước khi ra khỏi nhà cha tôi dặn lại: “Tin cho mẹ và các anh chị con biết, cha đi chưa biết bao giờ về”.

Một chốc mấy người công an trở lại bảo anh em tôi: “Cha mày là Việt gian, tối nay sẽ bị tòa án nhân dân xét xử, chúng mày cũng có máu Việt gian, tau cấm ra khỏi nhà nghe chưa, xớ rớ tau bắn vỡ óc”.

Chúng tôi không sợ nhưng lo cho cha tôi nhiều. Tôi thầm nhủ Việt gian là cái quái gì, cha tau mà là Việt gian! ông vừa bảo ai làm tay sai cho Pháp ông ghét lắm kia mà. Tôi liên tưởng đền hình ảnh của một ông Út bị bắn vỡ đầu vì làm hương kiểm: Việt gian! Một ông Địch bị vằm nát thây vì thâu tiền chợ: Việt gian! Một thằng Phùng vì đi chiếc xe đạp có cột mấy sợi chỉ xanh đỏ: Việt gian! Nên nó bị chôn sống. Ai Việt gian, phải chết! Đúng rồi. Nhưng Việt gian đâu mà nhiều quá vậy, ngay cả chúng tôi mới hơn 10 tuổi cũng Việt gian nốt!

Lo sợ quá tôi đâm liều, trời vừa tối, chuồn ra khỏi nhà theo đường hầm để núp máy bay oanh tạc không ai hay biết. Không dám đi đường thẳng, tôi theo bờ ruộng đến sân vận động Thanh Lam Bồ. Đến nơi, người đã đông, đứng trên một cái bàn cao, viên quận trưởng Nguyễn Văn Xuân đang thao thao kể tội trạng của từng người. Đồng bào im lặng đứng quanh không ai dám lên tiếng. Mấy nạn nhân trong đó có cha tôi, một người đàn bà tên Xuyến (bà ta thường đến nhà tôi chơi) và 2 nạn nhân bị trói cứng vào hai cái cọc – một người lạ và một người bạn thân với cha tôi là chú Súy.

Đại khái tội trạng của 4 tên Việt gian là:

  • Liên lạc với Pháp.
  • Ra dấu hiệu bằng cách phơi đồ đồng đồ nhôm phản chiếu ánh sáng mặt trời cho máy bay Pháp oanh tạc.
  • Ruộng nhiều mà không chia bớt cho bần cố nông, nạp thuế tô không đủ, bóc lột nhân dân.
  • Không kêu gọi con cháu trở về với kháng chiến và còn vô số lý do cà mèn khác nữa.

Cuối cùng, xử tử 2 tên bị trói ở cột, còn 2 tên Đoàn Đình Luận, Nguyễn Thị Xuyến đày đi Nam Đông cải huấn.

Sau 3 phát súng lệnh – một tràng súng trường nổ dòn như tiếng thét của tử thần, những vòi máu bắn tung tóe ra trên mặt cát, hai cái đầu nghẻo xuống để nhận hai viên kẹo đồng “ân huệ”, còn hai người được công an dẫn đi trước sự kinh khiếp của mọi người và sự hoan hỷ của mấy con quỷ sứ… Tôi về nhà, mệt mỏi, bàng hoàng và thiếp đi trong cơn ác mộng.

8.

Sau khi cha tôi bị đi đày lên Nam Đông, dù là nhi nữ, chị tôi (Đoàn Thị Kim Trang) cũng phải đảm trách công việc bới xách hàng tháng, cứ mỗi lần đi về thời gian mất ít nhất 15 ngày đêm, chưa kể sự tốn kém và nguy hiểm lặn suối trèo đèo, vạn tử nhất sanh khi băng qua quốc lộ hay bị máy bay Pháp oanh tạc. 4 tháng sau, cha tôi được phóng thích. Rất có thể phước báo người còn dày, cũng có thể nhờ sự vận động của mẹ tôi và bà con thân thích, nhưng lý do chính có lẽ nhờ sự “can thiệp ẩu” của các anh tôi bằng cách tha nhiều cán bộ cao cấp của VM để mạng đổi mạng, và chính trong thời gian này cha tôi sáng tác nhiều văn thơ giá trị (xem phần văn thơ).

9.

Là những công chức cao cấp, có quyền hành trong chính phủ Bảo Đại. Khi cha tôi bị bắt, dù báo tin ngay ít nhất cũng một tháng sau các anh tôi mới biết tin. Tôi không muốn nói sự buồn lo mà cần nhắc sự tức giận và phương sách can thiệp “ẩu” này: chọn 3 người cán bộ của VM trong nhà lao dẫn lên văn phòng dẫn dụ. Đại khái anh tôi nói: “Các anh đừng độc quyền hay nói đúng hơn là lạm quyền yêu nước, đừng tưởng ai phục vụ trong chính phủ Bảo Đại là phản quốc. Chưa hẳn. Cha tôi là một người có thành tích cách mạng, có tinh thần yêu nước và trung thành với chủ thuyết quốc gia cực đoan, các anh đã vu khống, đã u mê khi muốn tiêu diệt thành phần quốc gia đối lập, bắt đày cha tôi và những người đồng chí của ông là một lầm lẫn lớn. Nhưng thôi, cuộc đời này dù trong lãnh vực nào cũng có đổi chác. Mạng đổi mạng, tôi tha các anh để đổi mạng sống của cha tôi. Sau một tháng nếu cha tôi không về đến nhà chúng tôi xem như ông đã bị các anh giết chết và lúc đó hậu quả mà các anh phải chịu, ngoài những sự việc khác, đồng chí của các anh sẽ bị hành quyết trước cột cờ một người vào mỗi buổi sáng và đếm đúng một tháng mới thôi. Tuy có ác độc, bất nhân thật đấy nhưng so với các anh với chủ trương “giết lầm hơn bỏ sót” thì nó nhân đạo hơn nhiều. Các anh nghĩ sao? Đừng hiểu rằng chúng tôi hành động như thế với tính cách lợi dụng quyền hành và hoàn toàn tư thù, cũng có chút ít thôi, đời là thế, thù nhà lẫn nợ nước. Chúng ta xem đây là một cuộc trao đổi tù binh mà các anh có lợi hơn nhiều. Anh em chúng tôi chưa bao giờ giết người, các anh đừng bắt chúng tôi phải nhúng tay vào máu. Không cần những thủ tục rườm rà, các anh được tự do từ giờ phút này, nhân viên của tôi sẽ đưa các anh ra khỏi thành phố. Chúng tôi hy vọng và trông chờ thiện chí các anh. Chúc bình an”.

Sau gần một tháng thì cha tôi được về. Chúng tôi hay tin và đi đón người ở bến đò. Cha tôi vẫn mập mạnh tuy có hơi xanh vì thiếu ánh nắng. Một điều lạ là bất cứ ai đi Nam Đông về, ngay cả những thanh niên mạnh như voi cũng bị sốt rét rừng, uống phải nước độc nhuốm bệnh mà chết. Thế mà cha tôi không bị gì cả, dù đã già, cho đến ngày lâm chung cũng không một lần nào bị chứng sốt rét hay ngã nước.

10.

Năm 1954 Tổng thống Ngô Đình Diệm mời ra tham chính, cha tôi từ chối vì thấy chính sách ông Diệm chưa được rõ ràng, chỉ nhận làm Chủ tịch liên xã. Buổi giao thời trong phạm vi và chức vụ nhỏ hẹp, cha tôi chú trong nhiều đến công tác xã hội và từ thiện. Sau đó, cũng nể tình cố cựu, tin tưởng vào hành động treo ấn từ quan của ông Diệm nên bằng lòng ra tranh cử quốc hội. Có ngờ đâu mỗi miền mỗi lãnh chúa, ông Diệm đâu có quyền bằng ông Cẩn, ông Thục ở miền Trung đó là chưa nói đến đảng Cần lao và phong trào Cách mạng quốc gia của ông Nhu và cũng chính vì thế dù thất cử thua phiếu ông Cao Văn Tường do PTCMQG đề cử nhưng thanh danh càng được rạng ngời và cảm tình với nhân dân càng thêm sâu đậm.

11.

Chủ động trong việc mua phiếu, gian phiếu khủng bố cử tri để dồn phiếu cho Cao Văn Tường là ông quận trưởng Phú Vang Hồ Văn Tiên điều khiển luôn cả guồng máy gian lận ở các quận Hương Thủy và Nam Hòa. Trong một bữa ra mắt đồng bào, cha tôi đã tuyên bố: “Con người ra làm việc không phải là một con thú đi tìm mồi, nếu mang ý đồ này mà ra tranh cử, xin đồng bào xem đó là một con gà không hơn không kém. Riêng trong kỳ tuyển cử này, những người có trách nhiệm mà vận động bất công, gian lận sẽ nhận chịu sự bất công trừng phạt, dù rằng chủ nào chó ấy…”. Đồng bào vỗ tay mà chủ tọa đoàn thì ngồi sượng mặt. Có điều ngộ nghĩnh là sau đó ông quận trưởng Hồ Văn Tiên bị đày chuyển đi miền sơn cước chỉ vì một bãi phân trâu trên đường Thuận An đã làm cho cụ cố Ngô Đình Cẩn nhớp áo.

12.

Khẩu khí của cha tôi lắm lúc như cuồng sĩ, một lần khác, ngay giữa hội trường trong kỳ Đại hội quân, dân cáng chính có cả phái đoàn Tỉnh chủ tọa. Với tư cách Hội đồng tư vấn tỉnh Thừa Thiên, khi đề cập đến vấn đề tham nhũng, ông đã thẳng thắn phát biểu: “Đất nước thì điêu linh, dân chúng thì nghèo đói, giặc giã thì hoành hành mà chính quyền thì tham nhũng, quan liêu, hối lộ, thối nát, thằng trên ăn theo trên, thằng dưới ăn theo dưới, hút hết xương tủy của dân, phân của dân để bón ruộng cũng không chừa, chính những thằng tai to mặt lớn trong tỉnh trong quận trong xã ăn cướp của dân chứ không ai khác. Xin hội nghị lôi cổ ra đè xuống đánh vài chục hèo cho nó chừa cái thói ăn của dân đi. Riêng chúng tôi, Hội đồng tư vấn tỉnh đang phối kiểm hồ sơ và sẽ trưng bằng chứng để toàn dân biết một ngày gần đây”. Cả hội trường nhốn nháo vì cái lối phát biểu ruột ngựa của cha tôi. Dù sao cái bọn sâu dân mọt nước cũng ngán “ông già chịu chơi Đoàn Đình Luận”.

13.

Có thể nói cuộc đời cha tôi là cả một bầu trời nghệ sĩ, bất cứ tại đâu và bất cứ lúc nào, cha tôi cũng là một nghệ sĩ chính danh với đầy đủ ý nghĩa, lối tranh cử cũng thế, nó không thông thường như các ứng cử viên khác, nói trên trời dưới đất, hứa hẹn cho nhiều, phỉnh gạt đủ cách, mục đích để chiếm phiếu. Cha tôi thì khác. Tiểu sử chỉ ghi vài ba hàng đại cương, bích chương thì in một bài thơ bát cú (xem phần văn thơ), lúc tiếp xúc với đồng bào, thưa gửi vài câu thực tế, thế mà chiếm cảm tình khá nhiều, nên trúng cử Hội đồng tỉnh 2 nhiệm kỳ liên tiếp.

14.

Cái thú của đời nghệ sĩ là lồng vào tác phẩm của mình những gì mình muốn, nắn lên những nhân vật mình ưa, tạo một xã hội nho nhỏ cho riêng mình hay châm biếm đời một cách sâu sắc, tế nhị mà người nghe, người đọc phải nhận thức tế nhị nữa mới thâm cảm được ý tác giả.

Cha tôi sáng tác vở bi hùng kịch thơ NHẤT GIA TAM TRUNG dài 3 màn 6 cảnh (vở kịch này bị người Pháp thủ tiêu) cơ quan tuyên truyền của Việt Minh đem diễn khắp nơi. Nội dung của vở kịch ghi nhận lòng yêu nước của 1 nhà 3 người chống Pháp và hy sinh đến cả thân mạng nhưng trong đó lại ẩn ý lên án chính sách “vắt chanh bỏ vỏ” một cách khéo léo và rất ít người nhận thức ra và cũng là một lý do để cha tôi phải bị trả bằng 4 tháng ở Nam Đông.

Trong thời ông Diệm cũng thế, cha tôi sáng tác văn thơ để đăng các báo, gởi đài phát thanh phổ biến cũng với tinh thần trên mà chính quyền đương thời cũng không biết như bài CHỢ ĐỜI sáng tác lúc bầu cử Quốc hội khóa II (1963), bài MỘNG TRUNG CẢM TÁC sáng tác lúc tranh đấu của Phật giáo 1963. Riêng ông Quản đốc đài phát thanh Huế lúc bấy giờ là Đại úy Vũ Quang Ninh về nhà xin chép rất nhiều thể thơ: Ca trù, Nam ai, Nam bằng, hò mái nhì…, lên đài phát thanh để phổ biến, đa số các bài trên đều lấy bút hiệu Tùng Lãnh, Nguyên Nghị hoặc Hoài An…

Thú nhất là những lúc bình thi với các thi hữu trong nhóm HƯƠNG BÌNH THI XÃ.

15.

Nhiều lúc cha tôi ở nhà hay mùa đông giá buốt chúng tôi quây quần bên lò sưởi kể chuyện cổ tích, nói chuyện Tây Du, cha tôi cũng ngồi bên cạnh giảng giải những nhân vật Tam Quốc cho chúng tôi nghe, nhân vật mà cha tôi khoái nhất ngoài Khổng Minh ra là Lưu Bị, kế đến là Tào Tháo, tôi thì khoái Quan Vân Trường, anh tôi bênh Phụng Sồ, em tôi mê Châu Du… thế là mấy cha con nêu lập luận, bàn cãi sôi nổi. Bàn cãi chán rồi xoay ra làm thơ, ra đối, cha xướng con họa, chúng tôi ra đề cha tôi đối lại, không khí thật êm ấm. Có một lần, khi mới ngồi vào bàn ăn, chúng tôi sắp cầm đũa, cha tôi nhìn lên cây chim chim trước mặt nhà, lúc hoàng hôn xuống, lũ chim bay về ngủ rộn rịp trên cành, cha tôi nói: “Khoan ăn đã, tau ra câu đối này đứa mô đối trước được thì ăn, không đối được thì ngồi mãi đó: CHIM ĐẬU CHIM CHIM KÊU RỐI RÍT”. Chúng tôi ngơ ngác, phần đi học về đói bụng, phần thì không chuẩn bị tinh thần nên nhìn nhau bối rối, rồi xin làm chung, cha tôi bằng lòng, thế là mỗi đứa tìm mỗi chữ ghép lại. Sau 5 phút chúng tôi đối lại như thế này: “BÁC TRỒNG BÁC BÁC ĐỂ ĂN CHƠI”. Cha tôi cười bảo: “Tàm tạm thôi, chưa chỉnh lắm, chữ rối rít mà đối chữ ăn chơi nghe sao được, tuy nhiên hợp cảnh hợp tình cũng tạm gọi là được vì trước ngỏ nhà cũng có cây Bác bác”.

Một lần khác nhân ngồi trên xe đò có một nàng thiếu nữ tân thời, hút thuốc cotab, cha tôi lại ra câu đối CÔ HÚT THUỐC CÔ TÁP, chúng tôi đối ngay BÀ MẶC ÁO BÀ BA dù không được hay cha tôi cũng khen và lúc về nhà chúng tôi được thưởng một chầu bắp rang khoái khẩu. Cha tôi thường kể cho chúng tôi nghe những mẫu chuyện thích thú trong lúc chơi đối ngày xưa lúc Pháp mới đô hộ có làm một cái câu ở hướng đông nam trong thành nội Huế, có cụ đồ nho ra câu đối TÂY BẮC CẦU ĐÔNG NAM, không có ai đối chỉnh được, mãi mấy năm sau, lúc Nhật qua tước quyền người Pháp ở Đông Dương mới có người đối lại NHẬT HOA CỜ PHÁP VIỆT.

16.

Cha tôi rất vui tính, có hôm vào khoảng 2 giờ sáng tự nhiên ông nổi lên rên như bọng, mẹ và chúng tôi thức dậy thắp đèn lên thấy ông run bần bật, miệng sùi bọt mép như người bị kinh phong. Kêu gọi hoài ông không tỉnh được phải chạy đi mời thầy lễ y tá tiêm thuốc và lấy dầu thoa bóp khắp người, ông vẫn rên ầm ầm. Mãi đến lúc sau khi y tá đến sắp sửa tiêm thuốc thì cha tôi ngồi bật dậy cười ha hả, trong nhà hết sức ngạc nhiên, ông nói “Tau có đau ốm gì đâu, thỉnh thoảng chơi như vậy cho nó vui cửa vui nhà, và xem bây có đứa mô thương tau nhiều, biết liền”. Chúng tôi ngơ ngác nhìn nhau, bụng bảo dạ “Mình có người cha ngộ quá” (Lão ngoan đồng của Kim Dung sống lại vẫn còn thua đấy). Riêng mẹ chúng tôi trách móc “Chơi chi mà ác thiệt làm người ta hoảng hốt, thần hồn nát thần tính đó”. Cha tôi cười bảo “Nhưng chừ thì vui lắm phải không mình?”.

17.

Mùa đông ở Huế đôi lúc lạnh dưới 5 độ, chúng tôi không dám ló đầu ra khỏi chăn dù thường lệ phải thức dậy học bài lúc 4 giờ sáng. Có lần vì quá lạnh mà gặp phải mùa thi, những lúc này là một cực hình cho học sinh xứ Huế, chúng tôi cố gắng lắm là nằm trên giường mà học bài. Thấy thế, cha tôi lẳng lặng ra sân rồi hối hả gọi chúng tôi ra xem cái này ngộ lắm. Động tính hiếu kỳ chúng tôi mở cửa ra xem, gió bấc thổi vào mặt buốt giá – cha tôi đang ở trần trùng trục, trên tay cầm gáo múc nước xối ào ào vào mình. Chúng tôi rút cổ, nhìn trân trối. Một lúc ông vào, lau khô rồi bảo chúng tôi tập trung hết chăn chiếu trong nhà đắp cho ông, cao như một hòn núi giả, rồi ông nằm ngâm thơ sang sảng, lúc sau ông chìm trong một giấc ngủ ngon lành. Sau hôm đó, chúng tôi không còn dám sợ lạnh nữa và mỗi sáng đúng giờ phải thức dậy học bài.

18.

Cái thú nhất trong đời cha tôi là ngủ. Bất cứ tại đâu và lúc nào ông cũng ngủ được, có thể nói là lối ngủ của cha tôi chiếm giải vô địch thế giới.

Đi xem hát bộ, với 5 cái trống chầu cách nhau khoảng không quá 5 tấc, mỗi lần có một câu hát hay là 5 cái trống cùng lượt đánh lên như sấm động. Cha tôi thủ cái trống giữa, lúc đầu còn xem hát, còn chầu một lúc, chốc sau, gục đầu vào trống ngủ một giấc, mặc cho 4 cái trống 2 bên ầm ầm réo gọi, tiếng ông lại còn ngáy vang, cả rạp hát không ai còn màng xem hát, đào kép cùng khán giả chung xem cha tôi biểu diễn một giấc ngủ thiên thần.

Đang cởi xe đạp đi giữa phố, cha tôi cũng ngủ, có lần tông phải một cái quán bánh bèo bên đường, giữa lúc bà bán quán la hoảng, bát đĩa đổ vỡ lung tung. Cha tôi bừng tỉnh và cười ha hả, đứng lên vào quán kéo ghế ngồi tuyên bố “đã đói bụng lại muốn ngủ, tông nhằm quán bánh bèo là hợp thời, cái gì đổ vỡ thì bỏ đi, cái gì còn lại dọn ra đây xơi một bụng rồi hạ hồi phân giải”. Lúc đầu mọi người đang ngơ ngác nhưng sau vui vẻ làm theo. Cha tôi móc bóp trả tiền ăn và rồi xách xe trở về nhà.

Một lần khác, đi qua đập đá, vì ngủ, cả xe lẫn người phóng thẳng xuống sông Hương. Rủi một chiếc xe đò Thuận An chạy qua, cảnh sát thổi còi giữ lại vì ngỡ tài xế tông người. Từ dưới sông cha tôi lội lên, ướt như chuột, vừa cười vừa nói “Ê, mấy cậu cả, để cho họ đi, vì ngủ gật nên không thấy đường, xe lao xuống sông chứ họ đâu có tông mà giữ họ lại”. Mọi người vui cười trước một tai nạn hy hữu.

Những trường hợp tương tự rất nhiều, một lần hướng dẫn phái đoàn nhân dân tỉnh Thừa Thiên tiếp xúc với quốc trưởng Dương Văn Minh sau cách mạng 1963. Ông Minh hỏi “Cụ đã trên 70 tuổi trông còn mạnh khỏe như thanh niên”, cha tôi vui vẻ trả lời “Còn mạnh hơn thanh niên nữa, chỉ nhờ đi đâu ngủ đó mà thôi”.

Điều thích thú khác trong lối ngủ của cha tôi là ngồi trên Ciclo chạy dọc theo hai bờ hồ sông hóng gió dưỡng thần hay xuống đò chèo ra giữa giòng Hương giang để ngắm trăng và nghe giọng oanh của các ả đầu thỏ thẻ, khoan nhặt theo nhịp chèo vọc nước.

Con người sinh ra và chết đi. Một thời gian hiện diện giữa cõi đời, một chứng nhân thực tế của giai đoạn. Ăn, ngủ, làm việc là những nét chính mà mỗi người là một họa sĩ tự sáng tác lấy tác phẩm của mình. Đẹp hay xấu tùy sự pha màu và hoàn cảnh là những chất liệu mà tài nghệ của họa sĩ quyết định cho bức tranh hay hoặc dở, có giá trị hay không.

Cha tôi đã tự sáng tác lấy bức tranh của người với đầy đủ màu sắc và ý nghĩa. Khi nhìn vào, dù không nhận chân trọn vẹn. Là con cháu, tôi chỉ làm cái việc lồng kính trang trọng treo lên ở từ đường của Đoàn Gia để cháu chắt giữ làm gia bảo.

Viết xong tại Cam Ranh

ngày 01/11/1968 – PL.2512

Minh Tâm

Đoàn Đình Điệp

Gửi bình luận

↑