35 năm Bồ tát Quảng Đức vị Pháp thiêu thân (phần 2)

Lịch sử dân tộc Việt Nam đã chứng minh: Phật giáo Việt Nam chưa bao giờ đi ngược lại quyền lợi của dân tộc, người thấm nhuần tư tưởng Phật giáo chưa có ai phản bội quê hương giống nòi. Phật giáo Việt Nam bao giờ cũng tiên phong sát cánh với dân tộc trong việc cứu nước và dựng nước, cùng chịu với dân tộc trong mọi thịnh suy. Do đó thực dân Pháp và các tổ chức tay sai của Pháp bao giờ cũng đặt đối tượng để triệt tiêu là Phật giáo, nhà Ngô duy trì và áp dụng Đạo dụ số 10 do Pháp để lại cũng nhằm mục đích ấy.
Như đã nói: “Hòa thượng Thích Quảng Đức sinh ra và lớn lên trong bối cảnh lịch sử đó, cùng với dân tộc chịu chung số phận đó và cũng cùng dân tộc nuôi dưỡng tinh thần bất khuất, sẵn sàng hy sinh cho sự tồn vong của đất nước và của Phật giáo Việt Nam”. Đạo dụ số 10 là một văn kiện phi nhân bản, cực kỳ bất công với các tôn giáo, ngoại trừ Thiên Chúa giáo do chính thực dân Pháp truyền vào được đặc quyền, đặc lợi. Vụ triệt hạ cờ Phật giáo là một âm mưu trong muôn ngàn âm mưu khác để củng cố địa vị quyền hành, ngoài đời cho Nhu, Diệm, Cẩn và trong đạo Thiên Chúa cho đức Tổng Giám mục Ngô Đình Thục.
Vậy rõ ràng từ nguyên nhân xa đến nguyên nhân gần, để khi gặp nguyên nhân trực tiếp là bùng nổ. “Mưu thâm họa diệt thâm”, một bài học nhớ đời cho mọi thời đại, mọi con người.
Từ vụ thảm sát ở đài phát thanh Huế, các vị lãnh đạo Phật giáo phát động phong trào vận động cho công bình xã hội, tự do tín ngưỡng, ra tuyên ngôn đòi hỏi 5 nguyện vọng chính đáng và tối thiểu là:
- Yêu cầu chính phủ thâu hồi vĩnh viễn lệnh triệt hạ cờ Phật giáo.
- Yêu cầu chính phủ phải để Phật giáo được bình đẳng như các tôn giáo khác (hủy bỏ Đạo dụ số 10 bất công).
- Yêu cầu chính phủ chấm dứt tình trạng bắt bớ, khủng bố Phật giáo.
- Yêu cầu để Tăng Ni tự do hành đạo và truyền đạo.
- Yêu cầu chính phủ bồi thường xứng đáng cho các Phật tử chết oan vô tội và kẻ chủ mưu giết hại phải bị trừng trị.
Phương pháp vận động của Phật giáo là biểu tình, tuyệt thực, đưa thỉnh nguyện thư trong tinh thần bất bạo động. Một phương pháp mà Thánh Gandi đã thành công tại Ấn Độ để giành độc lập, đúng tinh thần từ bi, trí tuệ và dũng cảm của Phật giáo. Hòa thượng Thích Quảng Đức là vị Thánh Tăng đã áp dụng tinh thần bất bạo động đến tuyệt đỉnh, bằng sự tự thiêu của Ngài.
Trong tư thế kiết già, ấn Cam lồ với đôi tay từ ái, một pho tượng bằng xương bằng thịt trong chiếc y vàng rực rỡ uy nghiêm. Đầu giờ Ngọ ngày 20 tháng 4 nhuần năm Quý Mão (11/06/1963) ngay giữa ngã tư Phan Đình Phùng và Lê Văn Duyệt (CMT 8 và Nguyễn Đình Chiểu bây giờ), trung tâm thành phố Sài Gòn, pho tượng ấy đã tự biến thành một ngọn đuốc thiêng, ngọn đuốc tẩm xăng cháy bốc cao ngọn.
Các ký giả ngoại quốc kinh ngạc, các nhà báo trong và ngoài nước bàng hoàng, các nhiếp ảnh gia quốc tế trố mắt nhìn xúc động. Các ống kính, các nhãn quang tập trung hướng về cây đuốc sống.
Xe cộ dừng lại, Tăng Ni, Phật tử và bộ hành trên đường phố bao quanh. Niềm kính cẩn dâng cao, sự yêu thương lan tỏa, một cảnh tượng hào hùng chưa từng thấy, những âm thanh phừng phựt vi diệu chưa từng nghe. Hằng vạn vạn con tim thổn thức. Hằng triệu triệu lá phổi nghẹn ngào. 15 phút ngồi yên trong lửa đỏ – 15 phút gió như ngừng thổi, mây như ngừng bay – 15 phút cả Sài Gòn rúng động – mấy giờ sau cả thế giới chuyển mình. Ngài đã chứng thành quả vị!
Hình ảnh Bồ Tát Thích Quảng Đức tự thiêu, một sự hy sinh cao cả vì dân vì nước, vì thương đạo mến đời, một ngọn đuốc thắp sáng lòng người, phản đối bất công, ủng hộ 5 nguyện vọng tối thiểu và chính đáng của Phật giáo. Cả chế độ kỳ thị gian ác rung rinh, những kẻ cầm quyền si mê hoảng hốt. Hệ thống truyền hình, báo chương quốc tế hết lời ca tụng, tràn ngập hình ảnh vụ tự thiêu của Ngài chiếm gần trọn trang đầu. Các giới, yếu nhân, chính khách hướng về Việt Nam, cả nhân loại hướng về Đông Nam Á.
Thế là, cuộc vận động của Phật giáo lan rộng trở thành một phong trào đấu tranh của quần chúng. Không chỉ có những người Phật tử tham gia, mà tất cả mọi thành phần, nhất là giới trí thức, đều hưởng ứng, kể cả những người Thiên Chúa giáo có lương tri – mạnh mẽ nhất là giới giáo sư đại học, giáo viên trung học, sinh viên, học sinh, nhân sĩ, bác sĩ, kỹ sư cho đến công thương gia, tiểu thương, các giới lao động, quân đội, công nhân, xích lô, khuân vác. Nam Bắc hai miền, ai ai cũng ủng hộ hoặc trực tiếp tham gia, hoặc gián tiếp ủng hộ cuộc đấu tranh một còn một mất này. Ngọn lửa Bồ Tát Quảng Đức đã thắp sáng lòng người.
Các Tông phái Phật giáo như Nam tông, Tịnh Độ cư sĩ. Mười một tập đoàn đều quy tụ thành một ban gọi là “Ủy ban Liên phái Bảo vệ Phật giáo”. Mặc nhiên trên toàn quốc đã có sự lãnh đạo chung thống nhất đường lối và phương pháp vận động, do Tổng hội Phật giáo Việt Nam chỉ đạo. Đứng đầu là Đại lão Hòa thượng Thích Tịnh Khiết làm Hội chủ.
Chính quyền nhà Ngô cấp tốc thành lập Ủy ban Liên bộ để gặp Ủy ban Liên phái Bảo vệ Phật giáo giải quyết hòa đàm.
Phật giáo thì chân tình thành thật, chính quyền nhà Ngô thì mưu mẹo dã tâm, lùi một tiến ba, vẫn bí mật chỉ đạo cho các địa phương không những giảm mà còn tăng thêm tốc độ triệt tiêu Phật giáo.
Hòa thượng Thích Quảng Đức đã phát tâm tự thiêu từ ngày 27/05/1963, các cấp Giáo hội không đồng ý, im lặng, nhưng Hòa thượng vẫn giữ vững lập trường.
Thật sự, nếu ngày 27/05/1963, Hòa thượng phát tâm như vậy, mà chính quyền chấm dứt đàn áp Phật giáo thì chắc không có ngày 11/06/1963. Trên đường tu hành, Hòa thượng đã thấy rõ sự đau thương của Phật giáo và dân tộc dưới triều Ngô, nên Hòa thượng vẫn giữ ý nguyện của mình, Ngài đã để lại những vần thi kệ mang đậm nét từ bi:
“Một tu sĩ không thể ngồi nhìn đạo pháp suy vong, một công dân không thể điềm nhiên khi quốc gia lụn bại vì bị hôn quân tham bạo”.
Thư của Ngài để lại trước khi tự thiêu, Ngài vẫn giữ được bản chất của một bậc tu hành chân chính, trong thư không hề mang một ý hận thù, không hề có một chút yếm thế, bi quan hay thất vọng.
Trong thư mang một ý chí dũng mãnh, yêu thương cuộc đời, trang trải lòng từ bi cùng khắp và một niềm tin tưởng mãnh liệt là Phật giáo sẽ thành công, đất nước sẽ sáng lạng, quần chúng sẽ an vui. Tâm hồn của Ngài đúng là tâm Bồ Tát. Hòa thượng nguyện sau khi Ngài tự thiêu, Ngài mong muốn rằng:
- Qua vụ tự thiêu của Ngài, mong thức tỉnh Ngô triều sáng suốt chấp nhận 5 nguyện vọng chính đáng của Phật giáo.
- Ngài mong Phật pháp được trường tồn, để đem an lạc cho chúng sanh. Cuộc đời vốn đau khổ, chỉ có ánh sáng từ bi và trí tuệ của đạo Phật mới giúp cho cuộc đời bớt đau thương và giúp con người biết sống có ý nghĩa.
- Ngài mong cho Tăng Ni và Phật tử tránh được tai nạn khủng bố, đàn áp, đánh đập, giam cầm, tàn sát của chế độ độc ác đương thời.
- Ngài cầu cho đất nước được thanh bình, cho nhân dân an lạc.
Hòa thượng hy sinh và mong cho cả dân tộc được an vui chứ đâu chỉ có riêng gì cho Phật tử? Những người khác tôn giáo, những người không tôn giáo cũng được Ngài cầu nguyện.
- Ngài mong chính quyền thi hành những chính sách đúng đắn để tịnh yên nước nhà.
- Và ước nguyện sau cùng là Ngài mong muốn Tăng Ni và Phật tử phải đoàn kết để bảo toàn Phật pháp.
Khi chúng ta hiểu rõ mục đích việc tự thiêu của Ngài, 35 năm qua chúng ta đã làm được những gì để duy trì và phát huy tinh thần Bồ Tát Quảng Đức? Chúng ta đã thực sự đoàn kết với nhau để bảo toàn Phật pháp chưa? Mỗi một tu sĩ, mỗi một Phật tử, chúng ta tự kiểm điểm để thấy xứng đáng hay chưa xứng đáng là con cháu của Ngài, nhất là giai đoạn hiện tại.
Lúc đó, sau khi Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu, kết quả liền thấy rõ:
Thứ nhất: Ngọn lửa Bồ Tát Quảng Đức đã có sức mạnh tụ hội tất cả các Tông phái Phật giáo, thống nhất ý chí và hành động, yêu thương và đoàn kết với nhau.
Thứ hai: Nhà cầm quyền họ Ngô đã hoang mang lo sợ – họ lo sợ trước sức mạnh của con tim, của khối óc, của tinh thần vô úy, của chính nghĩa đại đa số quần chúng, nên họ đã nhượng bộ, ký bản Thông cáo chung với Phật giáo.
Thứ ba: Sự vĩ đại của ngọn lửa Bồ Tát Quảng Đức đã lay chuyển được lòng người. Cả nhân loại hướng về Việt Nam. Thấy rõ hào khí của dân tộc Việt Nam. Tinh thần vô úy của người con Phật của Phật tử Việt Nam.
Thứ tư: Ngọn lửa Bồ Tát Quảng Đức có khả năng chiếu rọi vào tâm thức mọi tầng lớp nhân dân và họ tự nguyện tham gia hưởng ứng, ủng hộ cuộc vận động của Phật giáo: công xưởng thì đình công, chợ quán thì bãi thị, học đường thì bãi khóa, công sở cơ quan thì lãng công. Từ Quảng Trị đến Cà Mau nhất tề hưởng ứng.
Trước sức mạnh quần chúng như nước vỡ bờ, chính quyền phải thương lượng với Ủy ban Liên phái Bảo vệ Phật giáo, dời ngày cử hành tang lễ của Bồ Tát Quảng Đức vào ngày 20/06/1963 thay cho ngày 16/06/1963 như dự định.
Khi hỏa thiêu với sức nóng mấy ngàn độ, quả tim của Ngài vẫn không cháy, điều vi diệu này để chứng minh cho nhân loại thấy được ý nghĩa của “Tâm kim cang bất hoại”. Cho đàn hậu bối chúng ta vững tin vào chân lý: Có tu có chứng ngộ. Quả tim bất diệt của Ngài nói lên Phật giáo bất diệt, tinh thần của Phật tử Việt Nam bất diệt, cuộc vận động của Phật giáo sẽ thành công, tinh thần bất khuất của dân tộc Việt Nam bất diệt.
Ngọn lửa Bồ Tát Thích Quảng Đức đã bắt buộc Ngô triều phải ký bản thông cáo chung, nhưng họ lại tìm cách phản bội. Các nhà lãnh đạo Phật giáo cũng biết rõ dã tâm của họ. Hòa thượng Thích Thiện Minh, Trưởng phái đoàn của Phật giáo đã thưa trước chư Tôn Đức rằng: “Nếu chúng tôi ký bản thông cáo chung có những điểm nào sai lầm thì nguyện đem thân mạng này hy sinh cho đạo pháp để khỏi phụ lòng kỳ vọng của Tăng Ni và Phật tử Việt Nam”.
Điều đó chứng tỏ rằng Phật giáo sẽ phải còn tiếp tục chịu nhiều thử thách, cam go, cay đắng hơn nữa.
Quả đúng như thế, tiếp nối ngọn lửa Bồ Tát Thích Quảng Đức, là ngọn lửa Thích Nguyên Hương, 23 tuổi, đã thắp lên tại Phan Thiết vào ngày 04/08/1963, đã bị nhà cầm quyền Phan Thiết cướp xác đem đi!
Ngọn lửa kế tiếp là lửa Thích Thanh Tue, một Tăng sĩ trẻ, 18 tuổi, tự thiêu trước chùa Phước Duyên (Huế) vào ngày 13/08/1963, đã để lại tâm thư thức tỉnh Tổng thống Ngô Đình Diệm. Và cũng bị cướp xác đem đi.
Không những chỉ có những ngọn đuốc Tăng sĩ mà cả nữ tu, chân yếu tay mềm. Tại Khánh Hòa, sư cô Thích Nữ Diệu Quang cũng thắp lên ngọn đuốc bằng chính thịt xương của mình vào ngày 15/08/1963.
Các ngọn đuốc cứ nối tiếp nhau như thế vẫn không đủ thức tỉnh nhà cầm quyền, họ vẫn phản bội bản thông cáo chung, vẫn âm mưu triệt tiêu Phật giáo.
Chùa Từ Đàm (Huế) là nơi phát khởi cuộc vận động.
Lúc 2 giờ sáng ngày 16/08/1963, ngọn đuốc Thích Tiêu Diêu lại bừng sáng, vị Tăng sĩ 71 tuổi, trước đó đã tuyệt thực, và trì kinh Pháp Hoa trong những ngày chùa Từ Đàm bị bao vây, cúp nước, cúp điện, nội bất xuất, ngoại bất nhập. Trong chùa có trên mấy ngàn người đang tập trung cầu nguyện.
Liên tiếp, khắp nơi biểu tình, tuyệt thực, đình công, bãi thị, bãi khóa… chính quyền vẫn ngoan cố không thức tỉnh, lại vạch một kế hoạch quy mô hơn, tàn bạo hơn, đó là “chiến dịch nước lũ”, tổng tấn công toàn bộ các chùa, am, tịnh thất khắp miền Nam Việt Nam vào đêm 20/08/1963.
Nhà cầm quyền đã huy động một lực lượng lớn gồm cả cảnh sát, quân đội, thanh niên cộng hòa, mở cuộc tổng tấn công bắt giam hàng trăm ngàn người con Phật từ Hòa thượng Hội chủ Thích Tịnh Khiết, đến chư Tăng, chư Ni, đạo hữu, các em gia đình Phật tử, các học sinh, sinh viên, giáo sư, tiểu thương Phật tử đều nhất loạt vào tù. Các nhà giam trung ương, tỉnh, huyện, xã đều chật ních tù nhân Phật giáo.
Nhà cầm quyền tưởng như thế là đã dứt điểm trong cuộc triệt hạ Phật giáo thành công. Họ không ngờ chỉ làm tăng thêm công phẫn trong quần chúng.
Ngày 05/10/1963, ngọn lửa Thích Quảng Hương, 37 tuổi, thắp sáng trước chợ Bến Thành (Sài Gòn). Và đến ngày 27/10/1963, ngọn lửa Thích Thiện Mỹ lại bừng cháy trước Vương Cung Thánh Đường, Sài Gòn. Trong lúc phái đoàn Liên Hiệp Quốc đang ở lại tại Sài Gòn điều tra vụ đàn áp Phật giáo.
Ngọn lửa Thích Thiện Mỹ là ngọn lửa cuối cùng kết liễu một chế độ phi nhân vô đạo.
Từ khi Bồ Tát Quảng Đức tự thiêu đến các ngọn lửa kế tiếp, bà Trần Lệ Xuân – vợ của ông Cố vấn Ngô Đình Nhu, đệ nhất phu nhân, đã tuyên bố: “Mấy ông thầy chùa điên, muốn nướng cho nướng luôn, không liên quan gì đến chính quyền cả!”
Sau khi chế độ sụp đổ, gia đình tan nát bà đã âm thầm “tu kín” suốt gần 35 năm. Bà Nhu đã hồi tâm sám hối, công khai viết thư xin lỗi và sám hối với Giác linh Hòa thượng Quảng Đức – 34 năm trôi qua, một con người tràn đầy tội lỗi cũng biết hồi tâm – Nhất điểm lương tâm của bà sau 34 năm đã thức dậy.
Trở lại vấn đề, nếu không có ngày 01/11/1963, nếu nền Đệ nhất Cộng hòa chưa sụp đổ, không những còn, mà còn rất nhiều ngọn lửa khác bùng lên – Chính sư bà Diệu Huệ, mẹ của nhà bác học Bửu Hội đã công khai họp báo từ con, vì bác học Bửu Hội đã làm tay sai cho Ngô Triều (Sau này mới biết: “Bác học Bửu Hội, có công với Phật giáo chứ không có tội, vì chính ông đã chuyển tất cả hồ sơ đàn áp PGVN đến Liên Hiệp Quốc”) – không những từ con, mà bà còn phát nguyện tự thiêu, noi gương Hòa thượng Quảng Đức để thức tỉnh lòng người. Và còn rất nhiều vị Tăng Ni Phật tử vẫn chuẩn bị noi gương Bồ Tát Quảng Đức.
Chúng ta chuẩn bị tổ chức lễ kỷ niệm lần thứ 35 ngày Bồ Tát Quảng Đức tự thiêu. 12 vị giáo thọ, giảng sư và 6 vị Hòa thượng, Thượng tọa, học giả sẽ trình bày 18 buổi diễn giảng chung quanh đề tài Bồ Tát Quảng Đức, chắc chắn chúng ta sẽ được nhuần triêm công đức của Bồ Tát Quảng Đức. Chúng ta nhắc lại sự kiện lịch sử này chỉ có mục đích là “ôn cố tri tân” để cho lễ kỷ niệm ngày tự thiêu của Ngài thêm ý nghĩa và lợi ích thiết thực.
Chúng ta không có ý niệm khơi lại việc đã qua để gây thù hận, chúng ta không khờ khạo làm việc đó, lại càng không dại gì mà tốn công, tốn của, mất thì giờ, để làm một việc vô ích. Xin đừng ai đem tâm của kẻ tiểu nhân mà đặt để vào lòng quân tử. Chúng ta phải biết rõ việc mình làm, phải nghe rõ lời mình nói.
Chúng ta là con cháu Bồ Tát Quảng Đức, phải theo đúng tinh thần của Bồ Tát Quảng Đức. Bồ Tát Quảng Đức đã tự thiêu không những cho Phật giáo Việt Nam, mà cho cả dân tộc Việt Nam và cả nhân loại lẫn muôn loài.
Chúng ta có bổn phận phải nhớ kỹ, nhớ rõ và truyền lại cho con cháu những sự kiện lịch sử này, một bài học lịch sử cần thiết trong nhiệm vụ giữ nước, giữ đạo. Muốn giữ nước phải lo giữ đạo của nước, đạo giữ nước chứ không phải đạo bán nước, Phật giáo là đạo của nước, thương nước phải thương đạo, mến đạo phải yêu nước, phá đạo của nước mình đang sống tức là bán nước. Bài học lịch sử của chế độ Ngô triều trong thời đại cận kim đã nói lên điều đó “Mưu thâm họa diệt thâm” là vậy!
Như thế, chúng ta nói đến tinh thần Bồ Tát Quảng Đức, nhớ đến ngọn lửa Bồ Tát Quảng Đức, và những ngọn lửa của các Thánh tử đạo. Chính chúng ta hâm nóng lòng yêu nước và tâm mến đạo của chúng ta. Cũng như nhắc đến Lê Lợi, Quang Trung, Trưng Vương, Triệu Thị Trinh… chúng ta theo gương các bậc tiền bối để quyết tâm đuổi giặc. Nhớ đến Lê Chiêu Thống, Trần Ích Tắc để triệt tiêu cái tư tưởng bán nước cầu vinh.
Chúng ta phải duy trì và phát huy nền văn hóa Việt Phật tức là thắp sáng ngọn đuốc Bồ Tát Quảng Đức. Dù Phật tử hay không là Phật tử, chúng ta cũng đều là con Lạc cháu Hồng, các tư tưởng phân chia Nam Bắc, các hành động kỳ thị, đố kỵ, chia rẽ chỉ làm cho tiềm lực quốc gia suy yếu. Là con dân đất nước, phải cảm mến giang sơn cẩm tú, có sông Hồng miền Bắc, sông Hương miền Trung, sông Cửu Long miền Nam. Có dãy Trường Sơn hùng vĩ, có trái ngọt, có hoa thơm trải khắp mọi miền đất nước.
35 năm qua, 35 mùa lá rụng, ai quên, ai nhớ, ai phản bội, ai trung thành?
Chúng ta, phải, trong chúng ta, những tu sĩ, những cư sĩ, những con người Việt Nam, ai đã cống hiến gì cho đạo pháp, cho dân tộc? Ai đã bắt chước Quang Ngọc Nguyễn Thân? Ai đã noi gương Phan Đình Phùng, Nguyễn Đình Chiểu?
Thà đui mà giữ đạo nhà,
Còn hơn sáng mắt ông cha không thờ.
Thế mà, đau đớn thay, giữa thời đại văn minh tiến bộ, thời đại vi tính này, vẫn còn có những âm mưu đen tối, tôn vinh kẻ bán nước làm thầy. Các cấp lãnh đạo Việt Nam đang kêu gọi trở về nguồn cội, bảo vệ văn hóa giống nòi, chúng ta đã làm gì để đáp ứng lời kêu gọi ấy?
Ngày 20 tháng 4 âm lịch năm nay, chúng ta tưởng niệm Bồ Tát Thích Quảng Đức, tưởng niệm công ơn chư vị vị pháp thiêu thân, chư Thánh tử đạo, chư anh hùng liệt sĩ, phải chăng, chúng ta đang trở về nguồn, đang thắp sáng ngọn lửa Bồ Tát Thích Quảng Đức trong mỗi chúng ta. Thắp sáng chưa đủ mà phải bằng tất cả tấm lòng, bằng hành động cụ thể thương nước, mến đạo, trong niệm tri ân và đền ân thì ngày đại lễ 20 tháng 4 mới thật sự có ý nghĩa.
Nam Mô Đại Hùng Lực Quảng Đức Bồ Tát, tác đại chứng minh.
Ôn GIÀ LAM
Đã ra đi
Trời nam ủ rủ,
Đất Việt cau mày
Sơn hà bi lụy
Mây gió ngừng bay
Tin ôn quảy dép về Tây
Một ánh sao mai vừa rụng
Thương cảm bàng hoàng tứ chúng
Niềm đau Phật tử năm châu
Hoa lá cũng rầu
Cỏ cây héo úa
Càng thương càng tiếc
Càng kính càng buồn
Càng nghĩ càng lo
Càng suy càng sợ
Lo cho tiền đồ Phật giáo
Sợ cho vận nước khó khăn
Giáo hội ai người gánh vác
Tăng Ni ai kẻ đỡ đần
Phật tử ít người hướng dẫn
Chùa chiền mấy kẻ chở che
Măng mọc mà thiếu tre
Dựng nhà mà thiếu cột
Ôn ra đi đột ngột
Chưa căn dặn một lời
Niềm đau này khó nói nên lời,
Nỗi buồn nọ bút nào ghi được!
Những ngày gần đây
Ôn chạy xuôi chạy ngược
Mong tìm ra biện pháp cứu nguy
Nào có giờ nghỉ ngơi
Đêm lẫn ngày vô ra
Cố gắng tìm cách giải nạn
Ôn mong muốn biến thù thành bạn
Ôn ước mơ tát cạn biển sầu
Ôn ra sức phổ biến đạo mầu
Ôn nỗ lực dựng xây Giáo hội.
Thế mà,
Ôn ơi !
Ma chướng bủa vây khap nẻo
Vô minh phủ kín trong ngoài
Ôn muốn cho thế hệ tương lai
Được nương bóng trong hào quang chư Phật
Ôn đã chịu biết bao nhiêu khổ cực
Bao khó khăn bao trở lực đau lòng
Nợ Đạo, nợ Đời ôn đã trả xong
Miền Cực Lạc ôn thong dong tự tại
Chúng con còn ở lại
Niệm ơn ôn dâng trọn tấm lòng thành
Ôn đã chứng vô sanh
Xin nhìn lại một đàn con thơ dại
Tâm thành con lễ bái
Dưới kim đài xin trải tấm lòng son
Giáo hội mất hay còn
Cúi xin ôn Từ bi gia hộ
Mong được Phật thương Tổ độ
Vượt qua chướng nạn cuộc đời
Trao truyền Phật Pháp khắp nơi
Cho HOA ĐẠO nở rực trời quê hương
Để ôn nhẹ bước lên đường
Kề bên sen báu Tây phương đón chào.
Kính bái !