35 năm Bồ tát Quảng Đức vị Pháp thiêu thân (phần 1)

Lời Đầu
Có tình với quê hương, mới yêu thương sông núi, mới mến quý đồng ruộng, lũy tre.
Có tình với nhân sinh, mới trân trọng, ấp yêu lẽ sống.
Có tình với gia tộc, mới thương kính tổ tiên, ông bà, cha mẹ, nội ngoại tôn thân.
Có tình với Tam Bảo, mới quy kính Thầy Tổ, yêu mến đệ huynh, pháp lữ.
Tình Đời đã quý,
Nghĩa Đạo càng quý hơn.
Trong định luật vô thường, thành trú hoại không, sanh trụ dị diệt nào có ai tránh khỏi. Thế nhưng, một giờ, một ngày, một tháng, một năm, gặp nhau, biết nhau, sống gần nhau, chung vai gánh vác việc Đạo, việc Đời vui buồn vinh nhục, sướng khổ chung phần, khi chia xa ai tránh khỏi chạnh lòng hoài cảm, vì đâu phải đất đá cho cam.
Nên, những dòng, những chữ trong quyển sách nhỏ này phát xuất tự tâm cang để tưởng nhớ ơn thầy nghĩa bạn (đã đăng trong các tập kỷ yếu, trong các lễ tưởng niệm hoặc mới viết chưa in sách báo nào). Tôi gom lại gọi là chút ân tình nhắc nhau, nhớ nhau cho ấm nồng nghĩa sống.
Cẩn bái,
Phật Ân Tự, Mùa Phật Đản 2552
Thích Trung Phong (Minh Tâm)
Lời thưa tái bản
Lễ Phật Đản 2552 tập sách nhỏ này đến với quý vị, sự chân tình của người viết được đáp lại bằng yêu thương và thông cảm, điện đàm thân mật và khuyến khích từ nhiều nơi và yêu cầu tái bản. Thứ nữa, có nhiều bài chưa kịp chữa chu đáo, hoặc chưa đưa vào sẽ bị chê trách.
Đón nhận nhiều ý kiến chân tình, Phật Ân xin tái bản vào dịp lễ Vu Lan 2552, chỉ sau lần in đầu 3 tháng, có sửa chữa và thêm bài, đồng thời thêm Mục Lục cho dễ tìm bài khi cần đọc.
Chân thành niệm ơn chư Tôn Đức và tán thán Phật tử đã tạo điều kiện cho lần tái bản này, và cũng mong được chỉ bảo thêm để những lần tái bản khác, hay xuất bản các tác phẩm khác được tốt đẹp hơn.
Trân trọng,
Phật Ân Tự, Vu Lan 2552
Thích Trung Phong (Minh Tâm)
35 năm BỒ TÁT QUẢNG ĐỨC
VỊ PHÁP THIÊU THÂN (Phần 1)
Diễn giảng tại Đạo tràng DPLH – Tổ Đình Quán Thế Âm
Phú Nhuận – Tp. Hồ Chí Minh
Ngày mồng 2 tháng 4 năm Mậu Dần
Kính bạch chư Tôn Đức, cùng chư Tăng Ni.
Kính thưa quý vị thức giả cùng toàn thể nam nữ Phật tử,
Như quý vị đã biết 12 vị giảng sư, giáo thọ và quý vị Hòa thượng, Thượng tọa, giáo sư, học giả đảm trách 18 buổi giảng chủ đề Bồ Tát Quảng Đức vị pháp thiêu thân năm 1963 mà ngày 20 tháng 04 âm lịch sắp đến chúng ta cử hành lễ kỷ niệm năm thứ 35.
Như lời giới thiệu của Thượng tọa trụ trì Tổ Đình Quán Thế Âm, ngôi chùa thứ 31 di tích cuối cùng của Bồ Tát, Người đã hy sinh vì đạo pháp và dân tộc mà hôm nay chúng ta đang tụ hội quây quần trước di ảnh của Ngài, dưới mái chùa này, nếu không phải là một phước báo, một túc duyên thì thật khó mà có được!
Trong 12 buổi giảng, 12 đêm và 6 đêm của các Hòa thượng, Thượng tọa, học giả Phật giáo diễn thuyết trước khi cử hành lễ kỷ niệm. Đây là một việc làm nên tán thán vì rất cần thiết để làm tăng thêm ý nghĩa ngày lễ và hôm nay chỉ mới là buổi giảng thứ hai theo sự phân nhiệm của Ban Giáo thọ.
Kính bạch chư Tôn Đức,
Kính thưa quý vị,
Những người năm nay 40 tuổi thì năm 1963 chỉ mới 5 tuổi, chắc chắn chưa hiểu rõ về sự việc xảy ra lúc bấy giờ, huống gì người năm nay 30 tuổi thì chắc chắn là không biết gì hơn, có chăng chỉ biết qua sách vở nên chỉ biết mù mờ. Chính vì vậy, chúng ta, những người đã nhiều tuổi, những nhân chứng thời đó phải có trách nhiệm nói rõ, nói lại cho đàn hậu học để “ôn cố tri tân” và sự hiểu rõ tường tận ấy sẽ mang một ý nghĩa thâm sâu, nhất là thâm sâu ở trong lòng Phật tử, những người đến với Đạo tràng Diệu Pháp Liên Hoa – Tổ Đình Quán Thế Âm lại càng cần phải biết rõ hơn nữa.
Chính vì vậy, chúng ta ôn lại bài học lịch sử trước đây 35 năm, một bài học mà bất cứ ai, dù Phật tử hay không phải Phật tử, dù đang nắm thế quyền hay giáo quyền đều nên ôn lại quá khứ, một quá khứ đau thương không chỉ cho riêng Phật giáo mà còn cho cả dân tộc nữa.
Năm ấy (1963) tôi mới 26 tuổi là một trong hàng triệu nhân chứng lịch sử, hơn thế tôi lại là một trong hàng triệu nạn nhân. Hôm nay, thưa chuyện với chư Tôn Đức cùng quý Phật tử không dám đứng về sứ mệnh giáo thọ hoặc sứ mệnh giảng sư, mà chỉ xin được trình bày với tư cách của một nhân chứng, một nạn nhân, như vậy, có lẽ sẽ trung thực và cụ thể hơn.
Chúng tôi tin chắc quý vị giảng sư khác sẽ trình bày những vấn đề, những khía cạnh chung quanh cuộc đời của Bồ Tát Quảng Đức hoặc ý nghĩa cuộc tự thiêu của Ngài một cách đầy đủ.
Phần tôi, trước hết muốn cùng quý vị hiểu rõ nguyên nhân tại sao Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu. Có hiểu rõ như thế mới thấy được ý nghĩa cao cả về sự hy sinh của Ngài.
Nguyên nhân gần nhất là Ngài hưởng ứng cuộc vận động cho 5 nguyện vọng chính đáng của Phật giáo Việt Nam dưới chế độ Đệ nhất Cộng hòa của miền Nam do Tổng thống Ngô Đình Diệm lãnh đạo. Dưới chế độ đó, Phật giáo Việt Nam bị kỳ thị, bị đàn áp dã man, bị khủng bố liên tục và toàn khắp. Có nhiều Tăng Ni và Phật tử bị thủ tiêu, bị đọa đày trong các nhà giam, bí mật có, công khai có. Nếu hôm nay chúng ta vì vô tình không hiểu rõ, hay vô tâm không nhớ nghĩ đến, thì quả chúng ta là kẻ “ăn trái” mà không nhớ kẻ trồng cây, là người vong ân bội nghĩa.
Thứ đến, nguyên nhân trực tiếp là sự kiện chính quyền Ngô Đình Diệm triệt hạ cờ Phật giáo vào mùa Phật Đản.
Sự việc xảy ra tại Huế vào chiều ngày 14 tháng 4 âm lịch, khi những người con Phật chuẩn bị sáng Rằm đón lễ Phật Đản một cách trang trọng bằng cách treo cờ đèn, kết hoa, thiết hương án, để cúng dường Phật Đản.
Ngay chiều ngày 14 tháng 4 âm lịch, lệnh của văn phòng phủ Tổng thống tại Sài Gòn được gởi đi khắp nơi ra lệnh triệt hạ cờ Phật giáo, không cho treo cờ trong các tư gia Phật tử. Ngay chiều hôm đó, chư tôn Hòa thượng, Thượng tọa và Phật tử ở Huế đã đến tòa tỉnh trưởng Thừa Thiên gặp ông Tỉnh trưởng để được biết sự việc, gần 5.000 tín đồ Phật giáo tụ tập trước Tỉnh đường để hỗ trợ việc này. Tỉnh trưởng Thừa Thiên, ông Nguyễn Văn Đẳng đổ thừa cho cảnh sát làm sai thượng lệnh. Sáng hôm sau (15 tháng 4 âm lịch), đoàn rước Phật từ chùa Diệu Đế lên chùa Từ Đàm để cử hành lễ Phật Đản đã trở thành cuộc tuần hành có tính tự phát của quần chúng Phật tử, vì có nhiều biểu ngữ đòi hỏi bình đẳng tôn giáo và phản đối chính quyền triệt hạ cờ Phật giáo. Quý thầy trong Ban Tổ chức giải thích và tạm thu biểu ngữ này thì lại có biểu ngữ khác trương lên với nội dung tỏ rõ lập trường và ý chí cương quyết rất mạnh mẽ của quần chúng Phật tử – Chứng tỏ một thái độ bất mãn chế độ đến cực điểm, nhưng đa số Phật tử cũng tỏ ra có kỷ luật rất cao, nên đoàn rước cũng đã đến chùa Từ Đàm đúng giờ quy định.
Các biểu ngữ do quần chúng Phật tử tự động trương lên trong đoàn rước có nội dung cương quyết là:
- Phản đối chính sách bất công, gian ác.
- Đã đến lúc chúng tôi bắt buộc tranh đấu cho chủ trương tôn giáo bình đẳng.
- Phật giáo đồ nhất trí bảo vệ chánh pháp dù phải hy sinh.
- Cờ Phật giáo không thể bị triệt hạ.
Tăng tín đồ nhất tâm bảo vệ lá cờ Phật giáo chính là bảo vệ lý tưởng tôn giáo của mình. Cũng như mỗi quốc gia có lá cờ tượng trưng cho tinh thần quốc gia đó vì có biết bao liệt sĩ đã nằm xuống để bảo vệ lá cờ của tổ quốc mình.
Thường lệ hằng năm và cũng đã được đồng ý trước, nội dung lễ Phật Đản tại chùa Từ Đàm được thu vào băng nhựa để tối 15 tháng 4 âm lịch sẽ phát lại trên làn sóng của đài phát thanh Huế.
Tối hôm ấy (15 tháng 4 âm lịch), đồng bào mở sẵn radio để nghe truyền thanh lại buổi lễ, và chỉ nghe đài phát thanh Huế phát toàn nhạc. Đã bất mãn lại càng bất mãn hơn, đã nghi ngờ chính quyền lại càng thêm nghi ngờ. Đồng bào Phật tử tự động kéo tới đài phát thanh tìm hiểu và đòi hỏi phải cho phát thanh lại buổi lễ Phật Đản sáng đó tại chùa Từ Đàm.
Trong lúc này Thượng tọa Thích Trí Quang, ông Tỉnh trưởng Thừa Thiên và ông Ngô Ganh (Giám đốc đài phát thanh Huế) đang thảo luận ở trong phòng thì ở ngoài xe xịt nước, xe tăng, thiết giáp, súng trường, súng máy, lựu đạn… do Thiếu tá Đặng Sĩ (một tín đồ Thiên Chúa) phó Tỉnh trưởng Nội an trực tiếp điều khiển đàn áp dã man vào Phật tử đang tụ tập quanh đài phát thanh Huế. Cuộc đàn áp đẫm máu vào đêm kỷ niệm Phật Đản năm 1963 đã làm cho 08 Phật tử chết và hàng trăm người bị thương.
Lửa đang cháy, chính quyền Ngô Đình Diệm lại đổ thêm dầu. Sự đàn áp dã man công khai tại Huế, đau khổ chất thêm khổ đau, uất ức tăng thêm uất hận, chính quyền họ Ngô đã dồn ép Phật giáo vào thế tự vệ chẳng đặng đừng – sự nhẫn nại của con người có hạn. Máu Phật tử đã đổ, Phật giáo phải đứng lên đòi quyền sống của mình, trang sử Phật giáo Việt Nam lại viết thêm những chữ bằng máu Tăng tín đồ. Lá cờ Phật giáo Việt Nam nhuộm tinh thần bất khuất của người con Phật. Cuộc vận động đòi bình đẳng tôn giáo, công bằng xã hội đã chính thức công khai dưới sự lãnh đạo của chư Tôn Đức Tăng già. Lá cờ Phật giáo đang tung bay trước mắt chúng ta hôm nay, lá cờ năm sắc được Phật giáo quốc tế công nhận, tượng trưng cho Phật giáo khắp năm châu, tượng trưng cho năm sức mạnh gọi là ngũ lực: Tín (lòng tin), Tấn (sự nỗ lực cần mẫn), Niệm (phép quán niệm), Định (sự tập trung tâm ý) và Huệ (là trí tuệ, lá ánh sáng giác ngộ). Lá cờ Phật giáo có năm sắc tươi vui, tượng trưng cho niềm tin của tín đồ vào ánh sáng Từ Bi và Trí Tuệ của chư Phật. Lá cờ đó không thể bị triệt hạ!
Đó là nguyên nhân trực tiếp để nổ ra cuộc vận động 1963 và sự kiện này xảy ra chỉ như một giọt nước cuối cùng nhỏ vào cái ly vốn đã đầy uất nghẹn nên phải tràn ra mà thôi!
Nói như vậy có nghĩa là trước đó còn rất nhiều nguyên nhân. Đã là người Việt Nam ngoại trừ những kẻ vong bản, phản quốc không ai có thể cam tâm làm thân trâu ngựa phục vụ cho các thể chế phi đạo đức, phi nhân bản, phi dân tộc trong cái thời Bắc thuộc với Tàu, Tây thuộc với thực dân Pháp.
Hòa thượng Thích Quảng Đức sinh ra và lớn lên trong bối cảnh lịch sử dân tộc đang bị sống dưới ách đô hộ của thực dân Pháp – Cả dân tộc Việt Nam, cả đạo Phật của dân Việt Nam bị những kẻ tay sai của Pháp tiếp tay với Pháp chà đạp lên quyền lợi tối thượng của dân tộc, muốn tiêu diệt nền văn hóa Việt Phật để dễ bề thống trị lâu dài, Pháp lợi dụng việc truyền đạo Thiên Chúa để cướp nước Việt Nam. Gia Long lợi dụng vũ khí của Pháp để cướp nước từ trong tay Nguyễn Huệ, vì bả lợi danh, vì chiếc ngai nhơ bẩn, Gia Long không từ chối phương thức “Cõng rắn cắn gà nhà”, “Rước voi về dày mả tổ”, thiết lập triều Nguyễn được mấy đời – Cũng may cho dân tộc Việt Nam, con cháu Gia Long cũng lắm người yêu nước như Minh Mạng, Hàm Nghi, Duy Tân đã có những hành động yêu nước nên đã rửa bớt cái nhục cho tổ tông, gây được “ý thức” đuổi giặc trong quần chúng – tầng lớp sĩ phu, các nhà cách mạng yêu nước cũng đứng lên đuổi giặc, nhưng giặc khó đuổi được vì một số người tay sai đắc lực theo Pháp – quần chúng thì lớp này đến lớp khác đứng lên bị giặc giết – kẻ tay sai thì thế hệ này qua, Pháp đào tạo thế hệ khác tiếp tục bán nước. Thực dân Pháp thì cứ lợi dụng số người này, cứ vơ vét tài nguyên quốc gia – cứ đào tạo lũ gia nô để sai bảo.
Gia đình họ Ngô là điển hình, nên khi Ngô Đình Diệm về nước, hứa trung thành với Bảo Đại để được làm Thủ tướng, rồi vì tham vọng thành kẻ bất nghĩa, bất tín, bất trung. Tổ chức “trưng cầu dân ý” gian lận, phản bội, hạ bệ Bảo Đại “Xanh bỏ giỏ (Bảo Đại), Đỏ bỏ bì (Đình Diệm)” khai sinh nền Đệ nhất Cộng hòa, thành lập Đảng Cần lao Nhân vị, duy trì Đạo dụ số 10 lập ấp chiến lược, tiêu diệt các tổ chức đối lập đứng đầu là Phật giáo. Đưa bà con giòng họ lên nắm quyền, thực hiện chính sách kỳ thị Phật giáo. Chính đó mới là nguyên nhân chủ yếu và là nguyên nhân sâu xa nhất để có cuộc vận động của Phật giáo và đó cũng là nguyên nhân chính để Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu.