Thay Lời Ngỏ – Sơ Lược Tiểu Sử

Thay lời ngỏ
Kính lạy vong linh cha,
Khác biệt với muôn ngàn trường hợp khi cầm viết đặt lên giấy.
Con ghi lại vài nét – chỉ vài nét thôi về đời sống của cha – một người cha có lắm điều độc đáo, không những chỉ trong hàng con cháu mà bất cứ ai cũng công nhận là hãn hữu và cần rút tỉa những điểm son để soi sáng vào nếp sống của mình.
Đó là ước nguyện và ý niệm của con – vì thế, con tin rằng dù xác thân trả về tứ đại nhưng anh linh cha vẫn còn hiện diện thường trực bên con, bên cháu để nhắn nhủ “ý thức làm người”,
Nha Trang
Mùa Sen nở 2512 (1968)
Khinh An
(Minh Tâm)
Sơ lược tiểu sử
Viết theo lời cụ Tâm Chánh
Cụ ĐOÀN ĐÌNH LUẬN, pháp danh NGUYÊN NGHỊ, bút hiệu TÙNG LÃNH, sinh năm 1892 tại An Truyền, Phú Vang, Thừa Thiên. Xuất thân trong một gia đình Nho sĩ, thân phụ là cụ cố Đoàn Đình Điểu và cụ bà Trần Thị Mai.
Hồi niên thiếu cụ thu thập một nền văn học uyên thâm trong lớp sinh viên Quốc Tử Giám và lãnh bằng tốt nghiệp ký bổ ở trường.
Bản tính thích nông nghiệp, năm 25 tuổi trở về quê vui cảnh đồng ruộng và mở trường dạy học.
Năm 1920 trúng cử Tỉnh Hạt Hội viên và Tư vấn Hội viên. Sẵn tinh thần yêu nước, cụ lấy quyền lợi đồng bào và chủ quyền quốc gia làm tiêu chuẩn hoạt động, nhưng thời thế lúc đó mọi quyền hạn đều tập trung vào tay thực dân Pháp, cụ bất mãn trở về thu hẹp phạm vi hoạt động, không ra ứng cử các khóa sau. Trong thời gian này cụ thường xuyên tiếp xúc với các nhà cách mạng tiền bối như cụ Phan Bội Châu, cụ Kỳ Ngoại Hầu Cường Để để góp phần cứu quốc nhưng mọi tổ chức, chương trình và kế hoạch hoạt động đều bị gọng kềm tình báo của thực dân Pháp phá hoại, nhưng không vì thế mà bó tay thúc thủ. Cụ vẫn liên lạc bí mật nhận thi hành chỉ thị, làm hậu thuẫn cho mọi hoạt động của cụ Phan Bội Châu, nhất là phong trào Đông Du do cụ Phan đề xướng.
Một lớp học Nhật ngữ được tổ chức tại vườn nhà cụ Phan với mục đích đào tạo một lớp thanh niên yêu nước có một căn bản tối thiểu để đưa đi du học ngoại quốc, liên kết với các nhà cách mạng nước ngoài hầu trở về giúp dân cứu nước.
Nhắm vào khả năng, tinh thần và điều kiện vật chất sẵn có, cụ Phan Bội Châu giao phó cụ đứng ra quản cố sự ăn uống cho lớp học sinh này. Cụ nhận trách nhiệm và xuất nhân tài vật lực của một đại điền chủ ra làm việc một cách vui vẻ. Nhờ có sự tán trợ và tiếp tay của cụ cố và hai người em ruột là cụ Đoàn Đình Bàn cùng cụ Đoàn Mễ (tức Thượng tọa THÍCH TIÊU DIÊU, người vị pháp thiêu thân tại chùa Từ Đàm năm 1963).
Trong thời gian này, người Pháp luôn luôn theo dõi, ngấm ngầm hoặc công khai khủng bố nhưng không vì thế mà các cụ nản lòng. Khi cụ Phan Bội Châu từ trần, lớp học bị tan rã. Sẵn tính phong lưu, giàu tiền của, cụ đi chu du khắp nước từ Sài Gòn đến Hà Nội tận hưởng mọi lạc thú ở đời – không một tửu điếm trà lâu nào mà cụ không đến, không một khu phố thanh lịch nào mà cụ không rành, không một thắng cảnh hữu danh nào mà cụ không biết. Ngoài thú tiêu khiển bên chung rượu, bên ả đầu, cụ còn tìm bạn tri âm để xướng thi họa vận. Sở thích của cụ là đánh Tài bàn, Tổ tôm và nhất là đánh trống ca trù theo nhịp bỗng trầm của các cô ca kỹ. Có người thấy thế cho cụ ham mê dục lạc mà bỏ quên khí phách anh hùng. Họ biết đâu “kết nạp nhân tài, tuyên truyền cách mạng, mưu đồ cứu quốc” đó là mục đích chính của cụ.
Cụ chủ trương: không cứu được dân một nước thì cứu dân một tỉnh, không cứu được dân một tỉnh thì cứu dân một huyện, xã, làng, nên cùng nhau trở về mỗi người đảm trách một địa phương nhỏ hẹp, đó là lúc cụ ra làm lý trưởng 7 lần trong năm 1947, vì bất cứ ai lên làm chỉ vào ngày đều bị một trong hai bên quốc, cọng sát hại.
Đây là giai đoạn khá nguy hiểm mà cũng khá lý thú trong đời sống của cụ.
Đến năm 1950 cụ tản cư về Hà Trữ (thuộc huyện Phú Thứ bấy giờ), nơi đây cụ chống đối thuế tô và những hành động tàn ác của ông quận trưởng Trần Văn Xuân cùng đồng bọn nên cụ bị vu khống là Việt gian giữa một tòa án nhân dân bịp bợm và bị đày đi Nam Đông giam giữ.
Bốn tháng sau, nhờ sự vận động của người em (cụ Đoàn Đình Bàn) và áp lực mạnh mẽ của ba người con trai lớn (Liêu, Thuyết, Từ là công chức cao cấp trong chính phủ Bảo Đại) nên cụ được trở về bình yên. Từ đó, cụ chỉ chú trọng về công tác xã hội và từ thiện, dạy dỗ con cháu không màng đến chuyện thế sự nữa.
Khi Hiệp định Gènevè ký kết (1954) cắt chia đất nước, cụ càng buồn rầu hơn nên hướng mọi khả năng vào phong trào chấn hưng và hoằng dương chánh pháp với hy vọng giúp dân thoát khổ bằng con đường Từ bi, trí huệ với ý thức dân tộc tự cường.
Lúc ông Ngô Đình Diệm về chấp chánh, gởi thư riêng mời cụ tiếp tay giúp nước, cảm nghĩa kim bằng, nể lúc giữ bò treo ấn, cụ hăng hái ra tranh cử chức nghị sĩ với ước muốn vào quốc hội tranh đấu quyền lợi cho dân chúng ngay giữa nghị trường. Éo le thay ! thời thế tạo anh hùng, sư tử về vườn và đười ươi làm chúa, cụ thất cử nhưng uy tín càng tăng vì những thủ đoạn tranh cử bè phái đê hèn của Cao Văn Tường đại diện cho phong trào cách mạng hồi đó: Cẩn Nhu = PTCMQG = Cần Lao – Quốc Hội 1956.
Tuy tuổi đã lớn nhưng tinh thần hoạt động còn hăng, cụ không bao giờ dừng nghỉ trong bất cứ việc gì nếu có lợi ích cho dân chúng. Cụ thường tranh đấu, vận động ráo riết với chính quyền hoặc cổ động các nhà hảo tâm thực hiện khá nhiều công tác xã hội và từ thiện như:
- Mở nhà hộ sinh miễn phí khắp nơi
- Mở trại tế bần
- Xây dựng trường học
- Sửa sang đường sá, cầu cống
- Xây giếng nước
- Đào hói, khai mương dẫn thủy nhập điền
- Bắt đập để ngăn chặn nước mặn tràn vào ruộng
- Sửa sang đình chùa miếu vũ, khai phá đất hoang…
Những công tác trên cụ thực hiện không hề phân biệt địa phương, lương giáo. Những người hợp tác đắc lực nhất với cụ ngoài số thân hữu còn phải kể đến linh mục Trần Dụ, nên cụ được dân chúng khắp nơi quận, tỉnh tri ân và hoan nghênh. Vì thế cụ phải đảm đương nhiều chức vụ trong nhiều năm:
- Hội viên Hội đồng nhân dân tỉnh
- Chủ tịch liên xã
- Trưởng ban từ thiện liên quận
- Hội viên Hội đồng tư vấn tỉnh
- Chi hội trưởng phước thiện bảo sanh
- Trưởng ban cứu trợ nhân dân bị thủy hỏa đại nạn
- Hội trưởng Hội phước thiện bảo sanh Việt Nam
- Chánh đại diện Giáo hội Phật giáo
- Cố vấn tổ chức các lớp bình dân học vụ
Dưới chế độ độc tài Gia đình trị họ Ngô, nhân dân ta thán, cụ thường cùng các bạn như Ưng Bình Thúc Giạ Thị, cụ Trần Chí Kỉnh, cụ Nguyễn Xuân Tiêu, và nhiều vị khác tìm cách thức tỉnh ông Diệm đừng để cho ông Cẩn ông Thục và vợ chồng ông Nhu khuynh loát chính quyền, nhưng đều bị mật vụ của ông Cẩn, ông Nhu chận trước và hăm dọa, các cụ đinh ninh ông Diệm không biết phục thiện, không còn được khí phách tâm địa ngày xưa nên không để ý đến nữa và cùng nhau thành lập hội HƯƠNG BÌNH THI XÃ vui trăng Vỹ Dạ, ngắm nước Hương Giang, xướng thơ họa vận, nhưng khẩu khí các cụ còn chứa đựng trong lời thơ dù tuổi đã về già (xem phần thơ văn ở sau).
Sáu người con trai cụ cũng chống lại chế độ này nên đều bị tù đày, cách chức hoặc sa thải. Mãi sau biến động 1963 hai ông Diệm Nhu bị giết, cụ hết lời thương hại ông Diệm, riêng các con cụ cũng được trả tự do và phục hồi chức vụ cũ. Mùa hè 1966. Nối chí ông cha con cháu cụ hăng say tham gia phong trào đấu tranh đòi Quốc hội lập hiến, và bị quân đội của các tướng Thiệu Kỳ Loan đàn áp dã man khắp nơi trên toàn quốc. Con cháu cụ lại một lần nữa bị bắt, bị cách chức tù đày. Cụ buồn việc nhà thì ít, hận việc nước thì nhiều, cụ lại bị cả hai phía khủng bố nên rời quê quán vào nghỉ mát ở Nha Trang, năm này cụ đã 74 tuổi. Hai năm sau 1968, cụ nhuốm bệnh và mãn phần tại Nha Trang lúc 3 giờ sáng ngày 26/12 Đinh Mùi (25/01/1968) hưởng thọ 76 tuổi.