Thứ Năm, ngày 15 tháng 10 năm 2026

Nguyên Phong Phật Ân

Trang nhà chùa Phật Ân – Ngôi Già-lam hồn Việt

Cư Sĩ Phật Tử Cần Biết

Kinh Di Đà – Kinh Phổ Môn

KINH DI ĐÀ

Kinh Di Đà có công năng siêu độ cho người quá cố muốn được sanh về cảnh giới Cực Lạc ở phương Tây. Cảnh giới này do đức Phật Di Đà làm giáo chủ, Ngài phát 48 đại nguyện, lời đại nguyện 19 là nguyện độ cho những chúng sanh nào phát tâm muốn sanh về nước ngài thì niệm Phật A Di Đà từ 1 cho đến 10 niệm mà được “nhất tâm bất loạn” thì chắc chắn sẽ được vãng sanh.

KINH PHỔ MÔN

Phổ Môn là phẩm thứ 25 trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa nói đến danh xưng và hạnh nguyện của Bồ Tát Quán Thế Âm. Do hạnh nguyện tầm thanh cứu khổ của Ngài. Nên, nếu ai bị tai nạn, thành tâm niệm danh hiệu của Ngài, Ngài liền tùy duyên thị hiện để độ thoát. Có cảm mới có ứng, nên rất nhiều trường hợp được Ngài cứu độ mà sách vở kim cổ đông tây đã ghi chép. Điều quan trọng là khi tụng kinh ngoài sự thành tâm còn phải phát tâm đại từ bi theo hạnh nguyện như Ngài thì rất có hiệu quả.

KINH DƯỢC SƯ

Kinh Dược Sư do đức Thích Ca giới thiệu một thế giới khác ở phương Đông do đức Phật Dược Sư làm giáo chủ. Công hạnh và 12 đại nguyện của Ngài là những phương thức tối diệu để chúng ta tự tạo lấy một cảnh giới huy hoàng, tự tìm được một niềm vui bất diệt. Vì pháp tạng có dạy “Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức” nghĩa là ba cõi đều do tâm tạo ra, muôn pháp đều do thức biến hiện mà có. Do vậy, kinh Dược Sư có công năng làm tăng trưởng chánh tín, tự tin để tiêu trừ bệnh tật, oan nghiệp, vì tâm trí lắng đọng không dấy khởi phiền não, dục vọng, lo sợ, buồn rầu… nhờ đó mà bệnh tật cũng bớt phát sinh và không có môi trường để phát triển. Các phương thức cầu đảo trong kinh  dạy mục đích để chúng ta vận hết tâm thành và từ sự chí thành đó mới giao cảm với từ tâm của chư Phật như mẹ tìm con, con phải tìm mẹ. Chứ mẹ muốn tìm con mà con cứ chạy trốn thì làm sao gặp nhau cho được !

KINH THỦY SÁM

Ngộ Đạt Quốc Sư do một chút vọng tâm mà phải nhận lấy tai nạn do oán đối cách 10 kiếp trước. Nhờ sư Tri Huyền chỉ cách lấy nước Tam Muội mới gội rửa được oan khiên. Nhờ đó Ngài Ngộ Đạt mới trước thuật ra kinh Thủy Sám nói rõ tội chướng và báo chướng của chúng sanh và chỉ cách diệt trừ tội báo.

Nước thế gian có khả năng rửa sạch mọi nhơ bẩn thế gian, nước Tam Muội có công năng rửa trừ oan nghiệp.

Người cư sĩ Phật tử hành trì kinh Thủy Sám đều cốt yếu là phải can đảm chí thành sám hối, quyết tâm dứt bỏ lỗi lầm nhất là phải diệt trừ ác niệm và phát huy mạnh mẽ thiện tâm và cũng chỉ có như vậy mới chuyển hóa được đời sống tối tăm trong gia đình và xã hội quanh mình.

KINH ĐỊA TẠNG

Không những đức Thích Ca mà cả tam thế chư Phật đều ca ngợi đại nguyện của Bồ Tàt Địa Tạng : “Còn một chúng sanh trong địa ngục Ngài nguyện chưa thành Phật”. Do nguyện lực đó nên Ngài thường cứu độ chúng sanh trong cảnh ngục tù tăm tối. Nên kinh Địa Tạng có công năng siêu độ vong nhân khổ ách.

Yếu lý của kinh Địa Tạng là người trì tụng phải phát tâm vô thượng Bồ Đề, dùng nguyện lực để thần giao cách cảm linh ứng với vong linh người quá cố để nhờ uy đức trì tụng và thần lực của Bồ Tát Địa Tạng người chết sẽ được siêu thăng.

KINH BÁO ÂN

Tức là kinh “Đại Báo Phụ Mẫu Trọng Ân”. Với đề kinh như vậy, người cư sĩ Phật tử phải cảm nhận trọn ý của Phật đề cao hạnh “HIẾU”.

Kinh này trì tụng vào các dịp hiếu sự, giỗ chạp, ma chay và nhất là vào mùa Vu Lan Báo Hiếu để đền đáp công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ.

KINH LƯƠNG HOÀNG

Lương Hoàng Sám còn gọi là Từ Bi Đạo Tràng Sám Pháp, được viết vào đời Lương Vũ Đế, do các Pháp sư đời Lương hợp soạn và có nhiều liên hệ với ông nên thông thường gọi là Lương Hoàng Sám.

Lại có tương truyền rằng, thuở còn hàn vi vợ Lương Vũ Đế là Hi Thị vì ghen tương mà trầm mình xuống giếng. Khi Lương Vũ Đế lên ngôi, oan hồn của Hi Thị hóa làm rắn mãng xà báo oán. Các thuật sĩ trù yếm không hiệu nghiệm, sau nhờ Tế Công Trưởng Lão dạy phải thiết đàn tràng sám nguyện, giải trừ oan kết, gột rửa tội khiên tam độc, nhờ đó Hi Thị mới được thoát kiếp mãng xà.

Trì tụng kinh này có công năng tiêu trừ tội chướng, giải oán đối nhiều đời. Dĩ nhiên, người trì tụng phải nhất tâm thành khẩn mới có nhiều kết quả, nhất là phải chí thành đảnh lễ các danh hiệu Phật và Bồ Tát chứ không nên tụng suông.

KINH PHÁP HOA

Tức kinh Diệu Pháp Liên Hoa, một bộ kinh tối thượng thừa Phật giáo. Nên khi đức Phật thuyết kinh này những vị thiếu căn cơ đều tự động rút lui khỏi pháp hội.

Yếu chỉ của kinh Pháp Hoa : “Khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến” qui hướng vào nhất thừa vô thượng. Phật dùng nhiều dẫn dụ để khuyến hóa chúng sanh. Người cư sĩ Phật tử trì tụng kinh này phải phát tâm đại thừa, cầu Bồ Tát đạo để đạt đến quả vị Phật thừa.

Trên đây chỉ là khái niệm một vài bộ kinh thường tụng, mỗi chữ mỗi câu trong các kinh đều có ý nghĩa cao siêu, thậm thâm vi diệu, muốn thông hiểu phải gia tâm tìm học và học để mà hành trì chứ không phải để khoe khoang, lòe đời, cống cao ngã mạn, hoặc giả không thành tâm mà chỉ muốn tỏ ra mình đã tụng kinh, niệm Phật mà đời sống phạm hạnh không có, thua cả kẻ thế gian thường tình thì chỉ phỉ báng Phật Pháp mà thôi.

THỜ PHẬT

Sám hối, niệm Phật, tụng kinh muốn có hiệu quả hơn phải đối trước bàn Phật. Ngoài thời gian đi chùa, khi ở nhà, người cư sĩ Phật tử rất nên thiết trí một bàn thờ Phật.

Phong tục tập quán người Việt Nam nhà nào cũng có bàn thờ gia tiên nên khi Phật giáo du nhập vào đã dễ dàng hòa nhập vào lòng quần chúng trong lãnh vực thờ tự. Niềm tin tưởng của đa số quần chúng dù họ chưa chính thức là Phật tử cũng thỉnh Phật về thờ. Hình ảnh đức Phật đối với họ có một uy lực vô biên khi hữu sự. Huống nữa là một cư sĩ Phật tử chân chánh.

Khi muốn trang thiết bàn Phật cần lưu ý :

  • Phải bàn bạc, nhất trí với người trong nhà (cha mẹ, chồng vợ, con cháu…).
  • Chọn chỗ trang trọng nhất trong nhà.
  • Tìm lựa tượng ảnh trang nghiêm, vừa ý, có hảo tướng, không lòe loẹt.
  • Vật dụng thờ tự phải sạch sẽ, tương xứng, mỹ thuật, giản tiện.
  • Thiết trí đơn giản, trang nghiêm không rườm rà, cầu kỳ (cần thoáng).
  • Nên thỉnh chư Thiền đức (nếu chưa có Bổn Sư) đến cử hành lễ an vị, trước khi cử hành lễ an vị phải chay tịnh sám hối trước vài ngày.
  • Phải thường bao sái, quét dọn.
  • Nếu thờ chung với gia tiên, luôn nhớ nguyên tắc : thượng Phật hạ linh, tiền Phật hậu linh. Không nên thờ chung hoặc thờ ngang hàng Phật với Quan Thánh Đế Quân, Bà Bổn Mạng, Cửu Thiên Huyền Nữ, Lê Sơ Thánh Mẫu…
  • Thờ Phật tùy theo tâm nguyện của mình, thích ứng hạnh nguyện của các Ngài, nét chung thì có :
  • Thiền tông           Thờ đức Thích Ca
  • Tịnh Độ tông       Thờ đức Di Đà
  • Mật tông Thờ đức Chuẩn Đề
  • Cầu An                Thờ đức Quán Thế Âm
  • Cầu Siêu Thờ đức Di Đà hay Địa Tạng
  • Đảo bệnh             Thờ đức Dược Sư
  • Cầu Pháp tương lai         Thờ đức Di Lặc

Tất cả chư Phật, Bồ Tát tròn đủ hạnh nguyện và các Ngài tùy tâm nguyện chúng sanh mà thị hiện để độ thoát, nên thờ 1 vị cũng như thờ cả tam thế chư Phật. Do đó, người cư sĩ Phật tử phải hiểu rõ yếu chỉ này để loại bỏ tâm phân biệt khi thiết trí thờ tự, tránh sự rườm rà, lôi thôi, sai chánh pháp, nhất là không nên nghe những lời giải thích sai lạc như : Tuổi trẻ không nên thờ Di Đà, thờ tượng ngồi Ngài mới ở trong nhà, thờ tượng đứng Ngài đi luôn, tụng kinh nhiều thì hay đổ nghiệp…

Trường hợp nhà cửa rộng rãi, phương tiện dồi dào thì mua sắm pháp khí (ảnh tượng, chuông mỏ) và vật dụng thờ tự tương xứng để thể hiện tâm thành. Trừ trường hợp nhà cửa chật hẹp, phương tiện thiếu thốn thì nên đơn giản vì bất cứ hoàn cảnh nào chúng ta cũng có thể thiết trí bàn thờ Phật trong nhà được cả, không nên quá câu nệ, cố chấp mà cũng đừng quá thờ ơ, miễn có tâm ý chí thành thì chư Phật ứng cảm.

Nhiều Phật tử thuần thành thiết trí bàn Phật trang nghiêm và thực hành lễ tụng hàng ngày. Các Phật tử nào không đủ điều kiện, thời gian khi thiết trí bàn Phật rồi thì nên và rất nên thỉnh một cái chuông nhỏ, hằng ngày mỗi tối và sáng mặc áo chỉnh tề, thắp 3 cây nhang đối trước tượng Phật thỉnh 3 hồi chuông tâm nguyện rằng : “Con đã theo Phật, con xin nguyện bỏ tất cả các điều ác, nguyện làm tất cả các việc lành, nguyện độ tất cả chúng sanh”, không quá 2 phút đồng hồ là xong. Thiết nghĩ, nhà nhà như vậy, người người như vậy thì cõi Ta Bà này sẽ thành nhân gian tịnh độ và từ đó mà cuộc sống rất có ý nghĩa, rất an lạc hạnh phúc.

THỰC HÀNH LỄ TỤNG

Đã thờ Phật phải biết lễ Phật, muốn hiểu pháp phải biết tụng kinh, tu theo Phật phải hành trì theo pháp Phật.

LỄ PHẬT

Lễ Phật có công năng giảm tính tự kiêu, ngã mạn, nép mình trước một tin tưởng tuyệt đối, biểu lộ sự chí thành, chí kính trước chư Phật và chính ngay với mình.

Lễ Phật có 4 cách :

  • Ngũ thể đầu địa.
  • Đầu diện tiếp túc.
  • Tam khấu đầu lễ.
  • Lễ đứng.

Ngũ thể đầu địa là chỉ vào hai chân, hai tay và đầu gọi là năm vóc gieo xuống đất. Khi lễ theo cách này nên phát nguyện lớn như kinh Hoa Nghiêm Tùy Sở diễn nghĩa chỉ dạy :

Khi gối phải con quỳ xuống đất nguyện cho chúng sanh theo Chánh giáo Phật.

Khi gối trái con quỳ xuống đất nguyện cho ngoại đạo bỏ tà kiến theo chánh đạo.

Khi tay phải con chống xuống đất nguyện được vững chắc như Phật ngồi tòa Kim Cang chứng đạo Bồ Đề.

Khi tay trái con áp xuống đất nguyện cho chúng sanh khó điều phục xa lìa ác đạo (dùng tứ nhiếp pháp) mà dắt dẫn nhau vào bể chánh pháp.

Khi đầu con sát đất nguyện cho chúng sanh bỏ tâm kiêu mạn thành tựu đạo vô thượng Bồ Đề.

Xem như vậy, người Phật tử mỗi hành động đều nên phát khởi nguyện lớn cầu cho mình và chúng sanh (kể cả kẻ theo tà giáo) cũng cầu được thành tựu chánh giác.

Đầu diện tiếp túc quy mạng lễ là lễ ôm chân Phật tỏ lòng chí thành vô tận.

Khi thực hiện lễ này phải chú tâm vào “chánh trí tương ưng” nghĩa là khi lễ Phật thân phải nghiêm chỉnh, y phục chỉnh tề, tâm tưởng ý suy, khởi lên chánh niệm, phát nguyện rộng sâu, nhất trí tiến tu, không cầu không chứng. Lễ như vậy, tức là chánh pháp, cùng với trí hướng tương quan ứng hợp mới gọi là chính lễ.

Khi lễ Phật tránh hai điều :

  1. Khinh mạn tương ưng : là thiếu sự thành khẩn vì thân không nghiêm chỉnh, ý không thanh tịnh, tâm tán loạn, khấn vái lung tung, kêu cầu loạn xạ, vì cả thân tâm ý đều không thanh tịnh và như vậy tức là có lỗi với Tam Bảo.
    1. Tạp giác tương ưng : là lễ Phật bất đắc dĩ, sượng sùng, miễn cưỡng, e thẹn, khiến giác quan thâu nhiễm cảnh trần phức tạp đó là điều không nên, có người làm bộ làm tịch cũng không đúng.

Ngoài ra, cách chấp tay cũng phải nghiêm chỉnh, phải hiệp chưởng lẫn hiệp chỉ (bàn tay áp sát vào nhau, các ngón tay không xòe ra như cánh quạt mà phải sát khít vào nhau giống như búp sen) đưa tay vừa tầm, mắt nhìn thẳng thấy đầu mút ngón tay là được.

Tam khấu đầu lễ : đó là một cách lễ thông thường, là nhất tâm đảnh lễ, ba lần rập trán sát đất chứng tỏ lòng thành khẩn vô cùng và tôn kính tuyệt đối với Tam Bảo.

Gửi bình luận

↑