Cách Tụng Kinh – Cách Đánh Chuông Mỏ

CÁCH TỤNG KINH
Tụng kinh là phương pháp hay nhất để thực hiện sự huân tập và sự cầu nguyện.
- Huân tập : Tụng kinh có công năng phát sanh trí tuệ và huân tập sự bình tĩnh. Trí tuệ luyện tập cho ta sự sáng suốt (tuệ). Bình tĩnh tập cho ta sức cương nghị (định), đó là hai điều cần cho sự sống theo giáo lý Phật dạy.
- Cầu nguyện : Khi tụng kinh tâm trí được tập trung tạo thành một năng lực mạnh mẽ, năng lực ấy có khả năng diệt trừ tội lỗi nơi tâm ý mình và tâm ý kẻ khác. những tội lỗi này ở trong trường hợp người tụng kinh quyết chí nỗ lực diệt trừ thì tội lỗi mới tiêu trừ được những kết quả bất như ý dần dần tiêu diệt. Đồng thời, sự giao cảm của chư Phật, những điều nguyện cầu hợp lý sẽ được thực hiện.
Vì vậy, chúng ta phải tập, phải tụng kinh tối thiểu mỗi ngày một lần có thể rất đơn giản dù chỉ trong mười, mười lăm phút.
Khi tụng kinh lưu ý các điểm sau đây:
- Tụng tiếng vừa phải, không quá lớn hay quá nhỏ.
- Cần rõ ràng, thiền vị, mạch lạc dễ nghe.
- Miệng tụng tâm suy, tập trung tư tưởng.
- Tụng hết bài, hết đoạn không bỏ dở.
- Ngồi, đứng hay quỳ phải nghiêm chỉnh.
- Gặp nghịch duyên thỉ nghỉ, không gượng ép.
- Phải thành khẩn, tự nhiên, không uốn éo giọng lưỡi.
Nhân đây xin chép mấy vấn đề để cùng tham cứu :
- Lễ Phật giả kính Phật chi đức.
- Niệm Phật giả cảm Phật chi ân.
- Trì giới giả hành Phật chi hạnh.
- Khán kinh giả minh Phật chi lý.
- Tọa thiền giả đăng Phật chi cảnh.
- Đắc ngộ giả chứng Phật chi đạo.
- Thuyết pháp giả mãn Phật chi nguyện.
- Tham thiền giả ngộ Phật chi tâm.
CÁCH ĐÁNH CHUÔNG MÕ
Chuông mõ là hai thứ pháp khí trợ duyên cho sự tụng kinh.
- Đánh chuông để điểm câu, dứt đoạn, biểu lộ sự hiểu biết mạch lạc đoạn kinh, báo hiệu cho đại chúng lễ Phật.
- Đánh mõ để giữ nhịp tụng cho đều, bộc lộ âm thanh hòa điệu, dẫn chúng tụng đều.
- Chuông là biểu hiện của trí lực vắng lặng mà người tụng nương theo.
- Mõ là biểu hiện sự rung động của cảnh giới tâm thức mà người tụng hòa theo.
Âm thanh chuông mõ thể hiện tâm tánh người đang sử dụng, vui vẻ hay khắc bạc, hòa nhã hay nóng nảy, hiểu kinh hay không. Ta phải tập sao cho câu kinh, tiếng chuông, hồi mõ hòa cảm với nhau, dẫn hồn người vào cảnh giới thanh tịnh giải thoát mới đạt được ý nghĩa tụng kinh. Muốn vậy, ta phải để hết tâm trí vào việc tụng kinh, thư thả rõ ràng mà không rời rạc, cao thanh mà không thô kệch, chuông điểm đúng câu, mõ dẫn nhịp đều, biểu lộ tâm cảnh và thức quan hòa hợp với nhau mới tạo được pháp âm vi diệu của chư Phật lưu chuyển trong nhân gian, cảm hóa mọi người hướng theo con đường giải thoát.
KHAI CHUÔNG MÕ
Tiên khởi tam trước đánh 3 tiếng chuông
Thứ lôi thất tiếp nhịp 7 tiếng mõ
Tịnh đả tam và đánh 3 tiếng chuông
Trung đả thập giữa đánh 10 tiếng mõ
Hậu diệc trứ sau dứt 4 tiếng chuông
Ý NGHĨA
- Trước đánh ba tiếng chuông : Chúng sanh đều do 3 nghiệp (thân, miệng, ý) tạo tác sau đọa 3 đường khổ (địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh) và phải trừ tam độc (tham, sân, si) để chứng tam đức (pháp thân, bát nhã, giải thoát).
- Thứ lôi thất (bảy tiếng mõ) : Tiêu biểu cho thất chi tội (thân tam: sát, đạo, dâm; khẩu tứ : vọng ngôn, ỷ ngữ, lưỡng thiệt, ác khẩu) để chứng thất giác chi (trạch pháp, tinh tấn, hỷ, trừ, xả, định, niệm).
- Tịnh đả tam (ba tiếng chuông) : Là chuyên tu tam học (giới, định, huệ) để chứng tam thừa (Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát).
- Trung đả thập (giữa đánh 10 tiếng mõ) : Là để tiêu trừ 10 điều ác : thất chi tội cọng thêm thân ý có ba (tham, sân, si) thành 10 điều ác để chứng 10 thân (Bồ Đề thân, nguyện thân, hóa thân, lực thân, trang nghiêm thân, oai thế thân, ý sanh thân, phước thân, pháp thân, trí huệ thân).
- Hậu diệc tứ (sau dứt 4 tiếng chuông) : Là tiêu trừ 4 tướng (sanh, lão, bệnh, tử) để chuyển thành tứ trí : Thành sở tác trí (tiền ngũ thức), Diệu quang sát trí (đệ lục ý thức), Bình đẳng tánh trí (đệ thất mạt na thức), Đại viên cảnh trí (đệ bát A lai gia thức).
Đánh chuông phải tìm điểm có âm thanh thiền vị, vì trong quả chuông có tiếng thanh, tiếng thô, tiếng gắt, tiếng dịu. Phải chọn chỗ nào có âm thanh thanh thoát mà đánh. Cách đánh cũng phải nhẹ nhàng để khỏi tức tiếng, gắt gỏng, chói tai, cũng đừng đánh quá khẻ không thành tiếng.
Đánh mõ cũng phải tìm huyệt vì trong mõ có chỗ tiếng vang thanh (đó là huyệt) còn những nơi khác tiếng rè, gắt, thô kệch thì nên tránh. Có nhiều chùa vị trú trì cẩn thận làm dấu ở nơi chuông mõ là lý do đó.
Cách đánh cũng phải vừa nghe để dẫn chúng, đừng lớn quá át tiếng kinh hay nhỏ quá chúng không nghe được mà thời kinh trở thành lộn xộn, kẻ tụng trước người tụng sau nghe rất khó chịu, đồng thời, cũng nên tránh lối đánh mõ không đều, lúc nhanh, lúc chậm, lúc quá lớn ồn ào như sấm, lúc nhỏ quá chẳng nghe được âm thanh.
Bây giờ, có một vài nơi cư sĩ cũng biết tán tụng, cũng ứng phú đạo tràng, cũng sử dụng tang, linh nhuần nhuyễn, điều này nếu để phụ giúp các Thầy đỡ mệt nhọc, làm cho sinh hoạt Phật giáo tại các địa phương có sinh khí nhất là các vùng sâu, vùng xa, vùng kinh tế mới, Phật tử khi hữu sự không có thầy, mời quý thầy khó vì xa xôi trở ngại nên các cư sĩ phải làm, phải thay thế nhưng chỉ nên trong mức độ cho phép, không nên lạm dụng, lại càng không nên tự cao, tự mãn, vẽ rắn thêm chân. Bổn phận và tư cách người cư sĩ trong lãnh vực này không cho phép Tẩy tịnh, vỗ thủ xích, thuyết linh, chứng minh trong sớ điệp… không những chẳng ích lợi gì mà còn tổn đức tổn phước làm cho sinh hoạt Phật giáo rối loạn.
Nếu có thực hiện, tổ chức đạo tràng tụng kinh Pháp Hoa, Lương Hoàng Sám hay đàn Dược Sư, đàn Thủy Sám, đàn Địa Tạng mà không có quý thầy chủ sám, hướng dẫn thì cư sĩ cũng chỉ nên y kinh mà tụng, theo đúng nghi thức tụng niệm mà làm, trong các bản dịch quý Ngài đã hướng dẫn rõ phần khai kinh, cách tụng và hồi hướng đầy đủ rồi, không nên thêm bớt, đừng vẽ vời, đòi hỏi quá đáng, lâu dần thành thói quen, thành tiền lệ, cũng dễ thành “thợ tụng” tuy có danh có lợi nhất thời, nhưng danh lợi này chỉ là bèo bọt mà tổn hại phúc đức nhiều đời, nhiều kiếp. Người cư sĩ có trí nên cố tránh xa.
Đa số cư sĩ Phật tử không có điều kiện, thời gian tụng kinh, niệm Phật… Tôi đã đề nghị và được nhiều cư sĩ thực hành một phương pháp tối đơn giản tu tập sau đây :
Mỗi ngày để ra 6 phút. Chia làm 2 thời, trước lúc ngủ 3 phút, khi mới thức dậy 3 phút, ngồi yên lặng tại chỗ ngủ, phút thứ nhất nhớ mình là Phật tử đã quy y Tam Bảo và thọ trì 5 giới cấm, phút tiếp theo nhớ nghĩ ngày hôm nay mình có nói, làm, nghĩ cái gì sai phạm 5 giới cấm đã thọ, đồng thời đã làm được gì có ích lợi cho bản thân, gia đình và xã hội, nếu có, phút thứ ba xin tự tâm sám hối và xin nguyện đem công đức của ý nghĩ thiện, lời nói thiện, việc làm thiện hồi hướng cho người thân kẻ sơ, người còn kẻ mất được quy hướng Tam Bảo và sống an lạc theo chánh pháp. Hôm sau, khi mới thức dậy cũng vậy và dành phút thứ 3 cho sự tự nguyện : Hôm nay con cố phát huy điều thiện tăng trưởng hơn ngày hôm qua. Thiết nghĩ, không ai mà không tu tập được mỗi ngày chỉ có 6 phút chia làm 2 lần như đề nghị này, ngoại trừ họ không muốn. Nhưng cũng xin các bạn đừng xem thường và cũng đừng chê quá ngắn. Huân tập cho thuần thục nó trở thành thói quen bạn sẽ gặt hái những kết quả rất bất ngờ, nhiều người đã chứng minh như vậy.
Là một tín đồ đạo Phật, là một cư sĩ Phật giáo đúng nghĩa chúng ta nên nhớ:
- Phải có ý thức tự trọng :
Vì mình là một người theo đạo Phật, mình phải đặc biệt hơn bao kẻ khác. Phải có một cái gì hơn người bình thường không biết gì về Phật giáo, đó là ý thức tự trọng cao.
- Phải tự hào :
Phải nghĩ rằng mình sống trong một hoàn cảnh đặc biệt, mỗi ý nghĩ hay hành động của mình đều có một ý nghĩa đặc biệt đối với cái đạo của mình đang tôn thờ và phải tự hào đó là phước duyên nhiều đời nhiều kiếp.
- Phải tự hào hơn nữa :
Phải nghĩ rằng mình đã theo, đã tôn thờ cái đạo mà như đạo Phật là điều đáng hãnh diện vì là cái đạo của Tổ tiên, ông bà, của làng xã, xóm thôn, của dân của nước, của dân tộc và chứa đầy dân tộc tính.
- Phải hiểu đức Phật :
Phải hiểu rằng, đúng như lịch sử đã ghi, đức Phật, vị Bổn Sư của chúng ta là một nhà đại cách mạng đúng nghĩa và cách mạng triệt để. Người không thừa nhận những bất công và áp bức, đã đứng dậy và tự giải thoát cho mình và cho bao nhiêu thế hệ bằng sức của chính mình.
- Phải thấm nhuần tư tưởng của Phật :
Tư tưởng của Phật căn bản là thừa nhận cuộc đời không có gì là chắc chắn, mọi sự mọi vật đều có thể và cần phải thay đổi cho thật hoàn hảo do sức của chính mình.
Chính tư tưởng ấy đã xây dựng nên cái đạo là đạo Phật. Tư tưởng của Phật chính là Phật chất trong mỗi chúng ta, cần được trau dồi và làm cho tỏa sáng, chứ không phải tìm kiếm từ bên ngoài.
- Phải có đức tin duy nhất :
Tôn thờ đức Phật, tin tưởng vào giáo pháp của Ngài, tin vào các bậc xuất gia chân chính. Đó là một tín ngưỡng duy nhất, kiên định một lập trường dứt khoát vì trước khi đặt niềm tin chúng ta đã gạt đi sự thiên kiến và chủ quan rồi vì không còn con đường xây dựng hạnh phúc chân thật nào khác ngoài Phật giáo.
- Phải luyện cho chính mình một tư cách cần thiết :
Tư cách hay nhân cách của người Phật tử là mẫu người hành Bồ Tát hạnh – thực hành ngũ giới – tu theo thập thiện, từ bi thương người, hùng lực cứu người.
Một tư cách cần thiết và tương đối là khi đã quy hướng vào Tam Bảo và thọ trì năm cấm giới (sát, đạo, dâm, vọng, tửu). Đã làm một con người, lại là người Phật tử mà thiếu tư cách làm người thì thật đáng chê trách. Nên chúng ta phải tu, phải luyện, phải sống có tư cách hơn người, có bản lĩnh hơn người. Nho gia cũng còn khuyên được “Uy vũ bất năng khuất, tiền tài bất năng phục, phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di”, huống gì Phật gia vượt trên hơn nữa.
- Phải xây dựng được đời sống đạo vị và đạo tình thể hiện được đạo tâm và đạo hạnh :
Sống có đạo vị là phải tụng kinh, niệm Phật, lễ sám, tri túc. Một cuộc sống tỏa sáng bởi các đức từ bi, hỷ xả, nhẫn nhục, bố thí, ái ngữ, lợi hành và đồng sự mới thể hiện được các đức tính tiếp theo là đạo tình và đạo hạnh và tất cả muốn có được phải phát xuất từ đạo tâm.
Đạo tâm, diệu dụng của đạo tâm thể hiện bằng hành động. Đó là đạo hạnh. Đạo hạnh sẽ tỏa rộng ra đạo vị, đạo tình, đạo lý… Giống như những vòng sóng tỏa tròn và rộng ra mãi khi ta ném một viên đá xuống hồ nước. Viên đá tác động vào nước là Đạo Tâm. Mọi vòng sóng kia phát xuất từ đạo tâm vậy.
Có các điều căn bản ấy mới nói được đến chữ phục vụ đạo pháp và nguyện độ chúng sanh.
- Phải rèn luyện tinh thần :
Rèn luyện tinh thần phục vụ và kỷ luật tự giác mới tạo cho người cư sĩ Phật tử sống có ý nghĩa đúng tinh thần Phật giáo đó là đời sống Thuần Chánh của một con người biết sống và đáng sống, sống có nghệ thuật sống, nghệ thuật rất cao, rất thoáng, rất chơn, rất thiện, rất mỹ.
Tinh thần phục vụ chính là tinh thần vị tha vô ngã trong giáo lý nhà Phật. Khi bạn thấy được, có được cái nhìn bằng con mắt “Trung đạo”, thì giữa mình và tha nhân không phải một nhưng cũng không phải là khác. Từ đó bạn sẽ có tinh thần phục vụ rất cao.
- Phải biết Phật hóa gia đình :
Một điều rất quan trọng mà người cư sĩ phải biết và phải làm, làm với quyết tâm cao, đó là Phật hóa gia đình. Phải hướng dẫn, khuyến khích, tìm đủ mọi cách để chuyển hóa tâm thức, của các thành viên trong gia đình, nhất là con cháu dâu rể. Đừng nghĩ một cách đơn giản là kiếm tiền cho con cái ăn học đầy đủ là được, học thức không phải là tri thức, tri thức chưa hẳn đã có nhận thức, nhận thức cũng chưa chắc đã có ý thức, có ý thức chưa hẳn đã chuyển được tâm thức (ở phạm vi tương đối của Tục để mà nói). Báo An Ninh Thế Giới số 45 (279) ra ngày 16/5/2002 đã đăng tin một nhân vật ở Hà Nội có 2 bằng tiến sĩ vẫn tha hóa, thù hận một chuyện không đâu, không đáng mà thuê người tạt axid vào người ! Một biểu hiện của sự có học mà không có hạnh, có học thức mà không có nhận thức đúng đắn, không có đạo đức nên chỉ gây rối loạn cho xã hội, phá hạnh phúc của bản thân và hạnh phúc của kẻ khác.
Người cư sĩ phải đặc biệt quan tâm trách nhiệm Phật hóa gia đình mới có thể có hạnh phúc chân thực được.
Cuộc sống buông thả, tha hóa, thác loạn của một số tuổi trẻ hiện nay đã là mối đe dọa trực tiếp cho nền móng đạo đức của dân tộc. Các cư sĩ, bậc làm cha mẹ phải thấy rõ vấn đề mà tìm phương giáo dục, cứu vãn, trước nhất là cứu mình, cứu con cháu mình và từ đó mà góp phần cứu dân, cứu nước.
Một điều rất rõ là vì không có đạo đức nên mới có cảnh giết người, cướp của, trộm cắp, đàn điếm, tham nhũng, hối lộ, gian thương, buôn lậu, mánh mung, chưởi cha, mắng mẹ, phản bạn, dối thầy, cờ bạc, rượu chè, say sưa, nghiện ngập…
Nếu tất cả chúng ta, tất cả mọi người đều có đạo đức, có phong cách, sống theo đạo lý làm người, theo giáo lý đạo Phật thì tòa án không có việc làm, nhà tù không có người ở, nhà ngủ không cần đóng cửa, xe không cần khóa, cảnh sát khỏi tuần tra… đơn giản như vậy mà xưa nay chỉ là không tưởng ! Vì sao ? Ai cũng cố tìm câu trả lời để thấy, tất cả đều do con người, vì con người không có đạo đức.
Không cao xa, chỉ cần 5 giới của Phật chế ra cho người cư sĩ Phật tử tại gia, người người giữ 5 giới, nhà nhà giữ 5 giới, từ già đến trẻ, từ vua đến dân, ai cũng giữ 5 giới thì lo gì mà không có hạnh phúc, không có an lạc, không có hòa bình ? Muốn vậy, phải Phật hóa gia đình, làm căn bản để Phật hóa xã hội, Phật hóa quốc gia và Phật hóa nhân loại thì quả địa cầu sẽ thành nhân gian tịnh độ.
Cũng xin nhắc thêm là vấn đề hôn nhân của con cái, người cư sĩ, bậc làm cha mẹ cũng phải quan tâm, đón một chàng rể, rước một cô dâu về nhà mà chúng thấy Phật không lạy, bàn thờ ông bà tổ tiên không vái, cha mẹ đi chùa thì nó bỉu môi, thử hỏi sống trong cảnh ấy gia đình có hạnh phúc không ?
Kinh nghiệm trong gia đình tôi, nỗi bất hạnh kéo dài đến mấy thế hệ, bây giờ viết mấy giòng này vẫn cảm thấy xót xa, một nỗi đau bất tận khi thấy con cháu của mình không cùng chung một lý tưởng tâm linh. Đừng quân tử “dỏm”, anh hùng “rơm” mà “tôn trọng tình yêu không biên giới” “tôn trọng tự do tuyệt đối của con cháu trong xây dựng gia đình”, lý thuyết bao giờ cũng đẹp, mà thực tế thì có lắm phủ phàng. Đó cũng là một nhận thức đúng đắn của người cư sĩ.
- Tâm lý cầu an phải bỏ :
Sống đừng thích dễ dãi, đừng ham tài lợi, đừng ưa muốn, mong cầu sự ủng hộ bất chính, nịnh bợ. Nhất là đừng xu phụ quyền thế, đừng biến mình thành con cờ, thành đồ chơi của thiên hạ, thành kẻ nô lệ cho nhiều người. Phải biết chịu đựng, hy sinh, khắc phục khó khăn, đương đầu với sóng gió trần đời mà đi lên trong tinh thần hùng lực của Phật giáo.
Tâm lý cầu an đồng nghĩa với hèn nhát, thiếu dũng cảm – “Kiến nghĩa bất vi vô dõng giả”. Người Phật tử phải có đức Dũng, đó là một trong ba đức tính quan trọng là Bi, Trí và Dũng mà mỗi Đoàn sinh GĐPT Việt Nam đều được huân tập ngay từ khi còn nhỏ – Lẽ nào chúng ta không làm gương cho con em sao ?
- Phải nhìn thấy nhược điểm của chính mình :
Là con người ai cũng có nhược điểm, nếu không có nhược điểm thì đã thành Phật thành Thánh rồi. Điều quan trọng là thấy được nhược điểm của mình để khắc phục. Muốn thế phải sống trong tỉnh thức, đừng rơi vào căn bệnh : Tự cao – Tự mãn – Tự đại.
Ai cũng phải công nhận rằng, nhất là Phật tử phải thấy trước hết là đạo Phật cao về trí tuệ, rộng lòng thương, đặc biệt đạo Phật đề cao địa vị con người (nhân bản). Tất cả mọi thành quả chứng ngộ căn bản từ con người chứ không phải trên con người là chư thiên hay dưới con người là a tu la, súc sanh hay ngạ quỷ. Không nên khờ khạo nhìn vào hình thức mà so sánh để rồi mang tâm lý tự ti tôn giáo mình thua điều này, kém điều kia. Sự lẩn thẩn này khá nguy hiểm nên phải trừ bỏ để có cái nhìn chánh kiến, nghiêm túc hơn mới thấy được đạo Phật thậm thâm vi diệu. Khi bạn có cái nhìn chánh kiến, có cái suy nghĩ chánh tư duy, bạn sẽ có cái thấy toàn diện, chứ không như 5 ông thầy bói rờ voi, thật đáng thương. Khi thấy được đạo Phật đúng như đạo Phật có, bạn sẽ tự hào về tôn giáo của mình; từ đó bạn sẽ ngẩng cao đầu mà tiến bước trên đường học đạo và hành đạo. Khi từ bỏ được tâm lý này chúng ta sẽ vươn vai đứng thẳng và làm được nhiều điều như ý đúng theo chánh pháp. Đó là sự thấy biết chân chánh, loại trừ nhược điểm để diệu hóa đời sống cá nhân, gia đình và xã hội mà ta đang chung sống.
- Phải hiểu rõ :
Đạo Phật cần những người có tâm huyết và những người này là sức mạnh, là hạt nhân tốt chặn đứng tội ác nhất là chận đứng mọi thế lực vô minh biến chuyển núp dưới chiêu bài lẽ phải mà giả tâm gieo rắc bóng tối và nọc độc vào cuộc đời, mà đứng đầu là bọn chúa ma (ma vương) của tham, sân, si, mạn, nghi và ác kiến…
Thẳng thắn mà nói thì trong hiện tại Phật giáo quả đang bị nhiễm trùng, vi rút “sư tử trùng” đã xâm nhập vào cơ thể. Do đó mà toàn thân đang nhức nhối do vi rút hoành hành, làm cho một số cư sĩ Phật tử bị chao đảo bởi nghe nhiều, biết nhiều mà tín tâm chưa kiên định. Còn một số khác thì lòng dặn lòng “y pháp bất y nhơn” cũng là một tâm lý thiếu tích cực mà thiếu tích cực thì thật quả khó mà tự giác và giác tha.
Ước mong của tôi, chân tình góp một lời, một câu, một ý, bằng cả tấm lòng, để cùng các đạo hữu bắt tay nhau mà học, mà tu, mà duy trì và bảo vệ đạo pháp để khỏi hổ thẹn là một cư sĩ Phật tử Việt Nam dạn dày kinh nghiệm, kiên cường bất khuất, được hun đúc bởi tinh thần Bi, Trí, Dũng của đạo Phật với một bề dày lịch sử suốt hơn hai ngàn năm trên bước đường thăng trầm của đạo pháp và dân tộc.
Trên cơ sở ánh sáng chân lý “Duyên sanh vô ngã” cái gì có sinh ắt có diệt, hữu hình tất hữu hoại, có bệnh thì bệnh phải hết khi vi rút bị loại trừ, tôi tin tưởng rằng con thuyền Phật giáo sẽ đưa dân tộc Việt Nam chúng ta cập bến một cách an toàn. Mặc dù con thuyền đó đang bị chao đảo vì hiện tượng thời tiết (pháp nhược ma cường, ma vương quấy nhiễu) sóng to gió lớn. Chúng ta đồng tâm và thành tâm cầu nguyện Tam Bảo gia hộ cho chúng ta muôn người như một giữ vững tay chèo. Chắc chắn thuyền chúng ta sẽ vượt qua cơn bão táp và cập bến an toàn. Trong hoàn cảnh mà vàng thau khó phân biệt, chơn giả mù mờ như hiện nay để định cho mình một hướng đi đúng nghĩa.
Nam Mô Thập Phương Thường Trú Tam Bảo – Tác đại chứng minh.