Rang Ngời Ánh Đạo – Quan Điểm

RANG NGỜI ÁNH ĐẠO
Hơn 25 thế kỷ qua, biết bao thăng trầm của thế sự.
Hai ngàn năm trăm bốn mươi chín năm qua đi của nhân loại có và đậm một điểm son, điểm son đó sáng chói hào quang soi sáng cuộc đời tối tăm đau khổ của nhân sinh. Một ngày trọng đại mở đầu một kỷ nguyên mới cho nhân loại : Ngày Thái Tử Tất Đạt Đa ra đời, và rực rỡ hơn, sáng chói hơn, mà cũng hùng lực hơn đó là ngày Đức Thích Tôn thành đạo.
Ngày Hoàng Tử Tất Đạt Đa ra đời, đủ 32 tướng quý, cả kinh thành Ca Tỳ La dậy tiếng hoan ca, trẻ già nô nức vui mừng và những giọt nước mắt xúc cảm của A Tư Đà, một tiên nhân đã xác quyết một chuyển xoay của xứ Ấn bởi đức từ bi vô lượng trí tuệ vô biên và hùng lực vô tận của một đấng siêu phàm.
Quả vậy, lúc còn nhỏ Thái Tử Tất Đạt đã biết suy tư khi thấy người nông phu cày ruộng dưới ánh nắng cháy da để đổi bát cơm manh áo, theo đường cày chim muông săn bắt côn trùng cắn mổ xé xác dế giun mà không thấy người thợ săn đang giương cung và sẵn sàng nhả ra những mũi tên độc ác. Cái cảnh mạnh được yếu thua, chà đạp lên sự sống của nhau bởi cái tâm tham lam, mê muội.
Một con thiên nga bị bắn rơi trong vườn ngự uyển, Thái Tử đã ôm vào lòng âu yếm, rịt thuốc cứu chữa rồi vỗ về chăm sóc tranh giành với một Hoàng Nhi khác để rồi phải nhờ đại triều phân xử, và Thái Tử Tất Đạt Đa đã thắng, vì lẽ “Nếu Sự Sống Đáng Quý thì Ai Đã Cứu Sống Con Thiên Nga Được Quyền Làm Chủ; Ai Tàn Sát Sự Sống Là Kẻ Bất Nhân Phải Bị Lên Án”. Sự phân xử của triều thần ảnh hưởng bởi từ tâm của Thái Tử đã định hướng cho một lẽ sống cao thượng mà con người phải theo.
Lớn lên, nhận chân sự sanh, già, bệnh, chết, bình đẳng tuyệt đối với tất cả mọi loài. Thái Tử tự nhận nghĩa vụ giải thoát cho mình, cho người, cho tất cả chúng sanh thoát khỏi sự đau khổ và ngài đã quyết định xuất gia tìm đường giải thoát.
Sự xuất gia tầm đạo của Thái Tử đã thể hiện rõ nét một tâm hồn vĩ đại, hy sinh không ai có, cương quyết không ai bằng.
Ngài tầm sư học đạo, tìm đến cầu học với các Đạo Sĩ, thủ lãnh các tôn giáo đương thời… nghiên cứu cả các học thuyết đang phổ biến, nhưng tất cả không thoát khỏi tư tưởng hệ của bản ngã, không vượt qua sanh tử luân hồi.
Ngài tự mình chọn con đường Trung Đạo, không khổ hạnh cũng không truỵ lạc. Sau khi phục hồi sức lực nhờ bát sữa của Tu Xà Đề. Tắm rửa dưới sông Ni Liên, trải cỏ dưới gốc cây Bồ Đề và phát lời đại nguyện “Dù Thịt Tan Xương Mục Nếu Không Giác Ngộ Quyết Không Đứng Dậy Rời Khỏi Nơi Này”.
Nơi đây, cao cả và nhiệm mầu, làm động đến đất trời rung chuyển, dưới gốc Bồ Đề Ngài chiến đấu quyết liệt với ma quân hiện thân của tham lam và tàn bạo điều khiển bởi ngu si và chúng đã thất bại bởi từ bi. Trí tuệ và hùng lực của Ngài. Và khi sao Mai mọc thì Ngài giác ngộ bởi sự tận trừ tham sân si. Sự giác ngộ này mệnh danh là Lậu Tận Minh tức là tâm trí thanh tịnh tuyệt đối, biểu lộ một tuệ giác tuyệt vời.
Trước đó là Ngài chứng Thiên Nhãn Minh tức là giác ngộ tính chất vô biên của không gian của vạn vật, tính chất ấy là sự tương quan tạo ra cái “Có” và Túc Mạng Minh là ngài giác ngộ tính chất vô tận của thời gian, của vạn vật, tính chất ấy là sự liên tục thể hiện sự “Còn” của vạn vật.
Kể từ đó, đêm thành đạo, ánh sáng chân lý được tỏa chiếu rạng rỡ khắp cõi Ta Bà, rạng rỡ hơn nhật nguyệt, bóng tối của vô minh, của dục vọng bị đẩy lùi, khắp cả tam thiên đại thiên thế giới được tắm gội trong ánh từ quang với niềm an lạc vô biên. Sau đêm Thành Đạo là Ngài đã vạch rõ cho mọi người thấy Khổ – nguyên nhân của Khổ – trạng thái Khổ Diệt và phương pháp Diệt Trừ nguyên nhân ấy (Tứ Thánh Đế).
Bánh xe chánh pháp được quay mạnh từ đây, khởi nguyên tại vườn Lộc Uyển. Phật Giáo có từ đó.
Từ địa vị căn bản của con ngưòi đối với bản thân, gia đình và xã hội được xác nhận thành chủ trương của Phật Giáo trong kinh Thiện Sinh, khắp mọi hạng người được Phật giáo giác ngộ, vì đau khổ bình đẳng thì cứu độ cũng bình đẳng, hung ác mê lầm như chàng Vô Não, cùng cực khổ sở như người gánh phân, tàn ác hiếu thắng hiếu chiến như Vua A Xà Thế, gàn bướng tự kiêu như các nhà tri thức Bà La Môn, tất cả khi đối diện với Đức Phật đều được ngài lấy từ tâm hóa độ cho tất cả. Ngài còn phục dịch người bịnh, xâu kim cho một bà già mù, ôm một con cừu non lạc đàn chạy theo mẹ nó, đánh đuổi một con sói để cứu một con nai tơ, tất cả hành động của Đức Phật đều thể hiện lòng từ, một lòng từ vô bờ bến.
Quả vậy, từ ngày Đản Sanh, Xuất Gia, đêm Thành Đạo của Đức Phật cho đến bây giờ và mãi mãi về sau, Đạo Phật đến đâu là đem đến cho nhân loại, chúng sanh niềm an lạc. PHẬT GIÁO đến quốc gia nào là đem đến cho quốc gia đó sự thịnh vượng an vui. Với dân tộc Việt Nam, Đạo Phật đóng góp không ít cho nền độc lập, phú cường của dân tộc qua bao triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần mà lịch sử đã chứng minh.
Đạo Phật vì sự đau khổ của chúng sinh mà hiện diện, Đạo Phật vì chúng sanh mà có “Khai Thị Chúng Sanh Ngộ Nhập Phật Tri Kiến” mà Đức Thế Tôn ra đời nên Đạo Phật không tranh chấp, không hơn thua, không mạnh yếu. Đạo Phật đến với chúng sanh như không khí, như ánh sáng, nhẹ nhàng, vô tánh, vô tướng, bàng bạc hư vô, tự nhiên như hơi thở vì vậy bất hạnh cho những ai ngột thở vì thiếu không khí, vô phước cho địa phương nào sầu đau đen tối vì thiếu ánh sáng đạo Phật.
Người Phật Tử kỷ niệm các ngày vía Phật, tổ chức lễ đài nhân ngày Phật Đản, kỷ niệm ngày lễ Xuất Gia, tổ chức mùa Hiếu Hạnh vào dịp Vu Lan, kỷ niệm ngày lễ Thích Tôn Thành Đạo… không những chỉ là hình thức mà thể hiện cả tâm thành, phải thổi vào các ngày lễ Phật Giáo một cái hồn thật sống động, thật linh hoạt, thật thiêng liêng. Phải trao cho nhau, trao cho người tham dự lễ một Phật chất siêu đẳng, một nhận thức đúng đắn, một ý nghĩa thậm thâm vi diệu.
Chúng ta cùng nhau chấp tay chí thành, chí kính tưởng niệm công đức vô lượng của đấng Cha Lành, hãy cùng nhau phát nguyện :
Nối chí Phật tinh tấn học đạo.
Đền ơn Phật bảo truyền chánh pháp.
Kính ngưỡng Phật thệ độ chúng sanh.
Tưởng niệm Phật bồ đề tâm bất thối.
Long Thành, ngày Phật Đản 2549
QUAN ĐIỂM
Thân ái riêng với các bạn học sinhlớp 10, 11 và 12 – Bồ Đề Phan Thiết
Điều mà không ai có thể phủ nhận được là người thanh niên trong vai trò chủ động, bảo toàn bước tiến của dân tộc, là lực lượng tiên phong trong những biến động của thời cuộc, là phát ngôn viên chính thức và trung thành của đại đa số quần chúng…
Do đó, trên thế giới, nhất là các nước đang trên đà tiến triển, các tổ chức thanh niên thể hiện trọn vẹn tinh thần quốc gia và chiều hướng tiến thủ của quốc gia đó.
Nhìn vào Việt Nam, quá trình lịch sử, khi xã hội bị chi phối từ mọi phía xâm nhập, nhất là cuộc xâm nhập ồ ạt của nền văn minh vật chất Tây phương. Tuổi trẻ Việt Nam đã ngỡ ngàng trước sự suy sụp của những giá trị tinh thần cổ truyền của dân tộc. Một số lạc loài chán nản, một số hấp thụ và theo đòi Tây phương mà không phải cách và đa số còn lại khiêm tốn, sống chật vật khó khăn với những ước mơ thầm kín, mang nặng nhiều hoài bão nhưng gặt hái thì lắm phủ phàng…
Trong những năm gần đây, thanh niên Việt Nam đã tỏ ra ý thức được trách nhiệm của mình trước lịch sử nên đã vươn mình lên trên mọi địa hạt, từ những công tác xã hội tập thể, từ các phong trào dân ca, từ những đòi hỏi hợp lý xuất phát do nhiệt tâm và ý thức về nguồn.
Nhưng đó cũng chỉ là triệu chừng bừng dậy đáng mừng. Vì nhìn vào thành quả thật không có bao nhiêu so với những mục đích tốt đẹp đã phác họa.
Như vậy, chúng ta phải nhìn vào thực trạng để bổ cứu đó là sự thiếu tổ chức, thiếu kỷ luật, lại thiếu luôn cả kỹ thuật hành động hay nói rõ hơn là sự thiếu hướng dẫn của các bậc thầy, những đàn anh có trách nhiệm, và khổ hơn, có thể cũng vì cá tính, anh hùng tính, hành động không đúng lúc, tự tôn không đúng chỗ, từ chối sự hướng dẫn hợp lý của những người nhiệt tâm lo cho tuổi trẻ, nên mọi hoạt động nhiều lúc trở thành phù phiếm nhất thời, dễ sai lạc.
Hơn ai hết, ngay bây giờ, chúng ta, những học sinh đã và đang trưởng thành phải nhìn rõ con đường mình sẽ đi. Biết rút tỉa kinh nghiệm nơi những người đi trước, biết phục thiện để tiến thủ, biết hòa giải để tạo sức mạnh hợp quần, biết dùng phương pháp nhu thắng cương. Không nên bất mãn với hiện tại vì hiện tại là nền móng vững chắc cho tương lai, chúng ta nhất định không buông xuôi, nhất định không đầu hàng nghịch cảnh. Đừng nghĩ rằng mọi con đường chỉ có đến Quang Trung, Đồng Đế mà dù cho đến đó cũng chưa phải là đích tận cùng khi chúng ta nuôi một ý chí sắt đá là phục vụ đích thực cho quốc gia.
Bồ Đề Phan Thiết
1973
ĐẠO PHẬT
Đạo Cách Mạng
Nhân ngày Phật Đản 2517, ngày đức Phật ra đời, xuất gia tu học và thành đạo, rồi đem giáo lý truyền bá cứu nhân độ thế cho đến ngày nay. Chúng ta xét trên mọi phương diện để xem ĐẠO PHẬT có thích hợp với tư tưởng CÁCH MẠNG của con người giữa thế kỷ hai mươi này không.
- TƯ TƯỞNG CÁCH MẠNG CỦA ĐỨC PHẬT
Trước hết đức Phật đã đem lại cho con người lòng tự tin ở khả năng cách mạng của mình. Ngài dạy “Con người sinh ra ở thế gian này đều có khả năng vươn lên không thể bị đau khổ hay khoái lạc nhận chìm”.
Thứ đến, đạo Phật bác bỏ thuyết định mệnh vì thuyết này chứa đựng một tinh thần chủ bại. Dù rằng Phật giáo chủ trương sự khác biệt, chênh lệch trong cuộc sống là do nghiệp dĩ con người, nhưng phải tin rằng chúng ta có thể thay đổi nghiệp lực theo ý muốn (chuyển nghiệp) thì lý nào lại chịu bó tay, bất lực trước tình trạng xã hội hay chính trị mà chúng ta coi là xấu?
Đạo Phật lại tôn trọng sự bình đẳng của mọi người, bác bỏ hẳn quan niệm dựa vào giai cấp giả tạo mà định sự khác biệt giữa con người. Ngài đã dạy “Ai cũng có thể đốt lửa và lửa của ai cũng cùng một màu sắc, cùng một công dụng”, do đó đạo Phật bác bỏ thuyết phân chia giai cấp, kỳ thị chủng tộc, kỳ thị địa phương, nâng cao quy chế phụ nữ và đã phá chế độ nô lệ.
Cuối cùng, xác nhận sự cần thiết làm cách mạng của con người. Đạo Phật chủ trương con người tương quan với nhau, tương quan một cách tuyệt đối. Trong lý “tương quan sinh tồn” bắt buộc con người phải cố gắng tạo những hoàn cảnh tốt đẹp cho cá nhân, gia đình, quốc gia và xã hội.
Tóm lại, đức Phật dạy chúng ta là mỗi một chúng ta đều có khả năng làm cách mạng và nhất định làm được, vì không có chuyện gì được an bài, ấn định trước và nếu có, cũng do chính con người chúng ta.
Nhưng làm cách mạng theo chiều hướng nào? Đó là chiều hướng bình đẳng giữa loài người và tự do ý chí tại mỗi cá nhân.
- CHỦ TRƯƠNG CÁCH MẠNG CỦA ĐẠO PHẬT
Sự thật, đức Phật không đưa ra một đường lối cách mạng nào, không có một giải pháp nào gọi là cách mạng theo quan niệm thế gian cả. Điều này là một đặc điểm của Phật giáo vì đức Phật có óc thực tiễn hơn các nhà cách mạng chính trị tầm thường khác. Ngài chỉ nêu ra một nguyên tắc rồi để cho con người tùy hoàn cảnh mà áp dụng các phương thức thích hợp. Vì vậy, nên tư tưởng cách mạng của đức Phật không bị lỗi thời. Tuy thế, đức Phật cũng dạy chúng ta những điều nên làm trong phạm vi chính trị, kinh tế và xã hội.
Về chính trị, đức Phật khuyến khích chính thể đại nghị, quốc gia được quản trị bởi một cọng đồng biết giữ gìn truyền thống và pháp luật tốt đẹp.
Riêng người lãnh đạo quốc gia, trong kinh Jakata đức Phật dạy mười điều:
- Phải hào phóng khoan dung, không tham lam của cải. Tài sản phải đem ra phục vụ cho lợi ích quốc gia.
- Phải có căn bản đạo đức, không sát hại lừa đảo, chiếm đoạt của công, không vọng ngữ, tà dâm hay rượu chè cờ bạc.
- Phải hy sinh tất cả cho hạnh phúc của toàn dân, sẵn sàng hy sinh tiện nghi, danh dự và mạng sống cho công lợi.
- Phải đoan chánh, thanh liêm, không sợ hãi khi hành nhiệm, phải chân thật không lừa dối quần chúng, không mị dân.
- Phải nhã nhặn, lịch thiệp, dịu hiền, nghiêm nghị.
- Phải biết tri túc, có một đời sống giản dị, không bị lôi cuốn trong sự xa hoa, hưởng thụ.
- Phải xa lánh hận thù, dục vọng, không lập dị và nhất là đừng giữ lòng sân hận với ai.
- Phải giữ tinh thần bất bạo động, tránh gây chinh chiến, tránh mọi hình thức đưa đến bạo động và sát hại sanh linh.
- Phải kiên nhẫn, quán xuyến công việc, phải can đảm chịu đựng thử thách không điên tiết khi bị chỉ trích, nguyền rủa.
- Không chống đối, không đối lập với nguyện vọng quần chúng, phải hòa nhịp với nhân dân, thực thi các biện pháp đem an lành đến cho quần chúng.
Một quốc gia cai quản bởi những người lãnh đạo thấm biến các đức tính trên nhất định quốc gia đó sẽ an hòa thịnh vượng, nếu không thì họa mất nước, nhà tan, mạng vong, không thể tránh.
Về kinh tế và xã hội, đức Phật chủ trương phân phối tài sản một cách công bằng, Ngài dạy: “Việc lợi ích nhất là hãy làm cho tất cả dân chúng đều được ấm no”. Ngài khuyến khích giúp đỡ ngành sản xuất và thương mãi, Ngài nói: “Giúp giống tốt cho nông dân, giúp thực vật cho người chăn nuôi, giúp vốn cho người buôn bán”. Ngài cũng khuyến khích các công tác đắp đường, bắt cầu, đào giếng, khai kênh… Ngài chủ trương “dân có đủ ăn đủ mặc thì sẽ bớt làm điều phạm pháp để trau giồi đạo đức cá nhân”.
Tựu trung, các chủ trương trên, đạo Phật dạy ta phải nỗ lực xây dựng một xã hội tốt đẹp cho đời bớt khổ thêm vui. Nhưng trước hết là phải biết cách mạng bản thân con người sẽ trở thành hùng mạnh, rồi cùng nhau kết hợp thành một sức mạnh, để theo đuổi lý tưởng chung là cách mạng xã hội. Sức mạnh này không phải là sức mạnh bạo lực mà là sức mạnh của tinh thần, của ý chí, của những người biết rõ mục đích cần thực hiện. Nếu không, người càng đông lại càng chia rẽ, càng yếu vì mỗi cá nhân chỉ biết theo đuổi quyền lợi riêng tư của mình.
Dựa vào đó, chúng ta có thể phê phán mọi chủ thuyết và phương pháp gọi là cách mạng mà các phe nhóm loài người chủ trương và cũng dựa vào đó, chúng ta có thể tạo sự liên kết và chủ trương cần theo đuổi để đả phá rồi xây dựng, nghĩa là làm CÁCH MẠNG.
Mùa sen 2517