Thứ Năm, ngày 15 tháng 10 năm 2026

Nguyên Phong Phật Ân

Trang nhà chùa Phật Ân – Ngôi Già-lam hồn Việt

Ngát Hương Đường Cũ

44 Năm Qua – Hào Quang Vẫn Sáng

44 năm qua, non nửa thế kỷ. Năm 1961 trong dịp đại lễ Phật Đản. Hòa thượng Hội chủ Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam đã gởi một Thông Bạch cho Tăng tín đồ PG toàn quốc với một quan điểm rất minh bạch, một nhận định vô cùng sáng suốt, vạch cho tín đồ một hướng đi hết sức trong sáng, một nhận thức để phục vụ Dân Tộc và nhân loại rất thiết thực, vừa khế lý, khế cơ, khế thời và khế xứ.

Nhìn lại hoàn cảnh của đất nước, của Giáo Hội, của Tăng tín đồ PGVN nói riêng và của nhân loại nói chung hiện nay.

Chúng tôi vô cùng cảm xúc khi đọc lại những ý từ trong bài Thông Bạch này, thấy các bậc lãnh đạo PGVN trước đây 44 năm quả là những bậc siêu phàm, nhìn xa thấy rộng. Nếu đem ra để định hướng cho sự tu học và phục vụ nhân sinh trong giai đoạn khoa học văn minh tiến bộ hiện nay, không những thích hợp mà còn cấp thiết nữa.

Do đó, Phật Ân xin đăng lại toàn văn bản Thông Bạch này để minh định lập trường và quan điểm của mình tuyệt đối tuân hành đường lối của Thầy Tổ đã vạch, không dám một bước lệch đường.

Thông Bạch này đã được đăng trong Đặc San số 1 của Gia Đình Phật Tử xuất bản tại Huế trong mùa hè năm 1961, có Hòa Thượng Thích Thiện Minh lúc bấy giờ là Ủy Viên Thanh Niên Phật Tử toàn quốc, Phó Hội Trưởng Hội Phật Giáo VN tại Trung Phần thuộc Tổng Hội Phật Giáo VN viết lời giới thiệu ngày 25.03 Tân Sửu – Pl : 2505 – Dl : 1961.

Trong những năm vừa qua, đạo Phật đã phát triển không ngừng trên khắp thế-giới. Văn-hóa nhân-loại đang dần đến tổng-hợp, cho nên một nền đạo-học siêu-việt và thực dụng như đạo Phật cố nhiên cần phải được nhân-loại học hỏi và thực-tập một cách thành khẩn và thiết tha.

Ngày Phật đản năm nay đánh dấu một bước tiến dài của sự nghiệp dung hợp và hoằng-hóa của Phật-giáo thế-giới. Nhân-loại hiện nay đang cần đến tinh thần dung hợp, tinh-thần từ-bi bất bạo-động của đạo Phật để có thể vượt qua những khủng hoảng trầm trọng do sự tranh chấp toàn diện của các hình thái sinh hoạt văn-hóa khác nhau do những nhận định khác nhau vì đường lối sinh tồn của nhân loại.

Đã đến lúc chúng ta cần nhận định rằng mọi kiến thức riêng rẽ đều có thể vướng ít nhiều tính cách thiên-lệch chủ quan, bởi vì mỗi con người hay mỗi lớp người chỉ có thể nhận-định được vấn-đề qua chủ-thể nhận-thức của mình. Một nhận-thức gần với chân-lý nhất là một nhận-thức tổng-hợp, dung hòa được tất cả các quan điểm, thực hiện được sự dung hợp vĩ đại. Có đi đến một nhận thức như thế, con người mới đủ sáng suốt để xây dựng cho mình một thế-giới an-lạc và hạnh-phúc. Nhưng để đi đến một nhận-thức như thế, con người phải trừ diệt ngay tính cách cố chấp của nhận thức mình để sẵn sàng nhận những quan điểm khác làm nền tảng cho cuộc tổng hợp. Phải suy tôn Tự-Do, nhất là Tự-Do Tư-Tưởng. Đạo Phật chú trọng đặc biệt sự phá trừ những cố-chấp, những thành kiến sẵn có của tâm niệm để mở rộng tâm hồn đón ánh sáng chân-lý rào rạt chiếu vào. Cho nên, thái độ đẹp đẽ nhất của người Phật-tử là thái độ cởi mở. Có cởi mở, có sự thông cảm và vượt được những bức trường-thành cố-chấp cố-thủ là nguyên do của tranh chấp gay go và đau khổ của nhân loại hiện nay. Tinh thần cởi mở và Tự-Do của Đạo Phật có thể dẫn đạo được cho công cuộc tổng hợp văn-hóa, có thể góp phần một cách hữu hiệu trong sự thực hiện tương dung tương hóa của mọi ý thức hệ, mọi quan điểm văn-hóa, kinh-tế, chính-trị, xã-hội. Có được sự dung hóa ấy nhân-loại mới tìm thấy con đường chung, nghĩa là tìm thấy hạnh-phúc.

Trước đây 2585 năm, văn-hóa xã-hội Ấn-Độ đã từng đi vào một thế tương tranh tương chấp cực-kỳ dữ-dội. Đức Phật đã xuất hiện trong tình trạng ấy, và với tinh-thần giác-ngộ, tinh-thần tự-do, với khả năng dung hợp và cải hóa vĩ-đại, đã thực hiện được một thế quân bình cho những cơ cấu sinh hoạt tri-thức, kinh-tế đạo-đức của xã-hội thời ấy. Ngày nay tuy quốc-gia vẫn là đơn vị của tổ-chức nhân-loại quốc-tế, nhưng các nền văn-hóa đã và đang gặp nhau trong một sự va chạm khốc liệt và thế nào cũng có một ít đổ vỡ do sự va chạm ấy gây nên. Các nền văn-hóa va chạm và đổ-vỡ là để dung hóa nhau. Sự dung hóa ấy rất cấp thiết, bởi vì chừng nào nhân-loại còn chưa thực hiện sự dung hóa ấy thì nhân-loại vẫn còn nằm trong tình trạng tranh chấp đau khổ.

Phật tử chúng ta cầu học hỏi để nhận thức được một cách rõ rệt những nguyên lý căn bản trên đó nền văn-hóa Phật-giáo đã được thành lập. Chúng ta phải tìm hiểu những động năng độc đáo nào đã khiến cho đạo Phật có một khả năng dung hóa mãnh liệt, một sức sống tràn đầy. Tinh-thần tôn trọng Tự-Do tuyệt đối, tinh-thần hóa-độ dũng cảm, trên nguyên lý từ-bi bất bạo-động, đó là những nhân tố thiết yếu tạo nên dòng sinh hoạt chính-pháp, mà cũng là những gì mà xã-hội như xã-hội chúng ta hôm nay đang cần đến một cách cấp thiết như người bệnh cần uống thuốc.

Học Phật và thực hành đạo Phật là để làm sáng những nguyên-lý căn-bản ấy trong cá nhân ta, trong đoàn thể ta và trong xã-hội ta. Hoằng dương giáo-lý không phải là để cho người thờ cúng Đức Phật mỗi ngày mỗi thêm đông mà là để thực hiện và trao truyền những nguyên lý đó cho mọi khu vực xã-hội trên toàn thể thế-giới. Lý trí chỉ có thể phát triển và đạt đến chân-lý trong không khí Tự-Do Tư-Tưởng. Tình cảm chỉ có thể đẹp đẽ trung hậu khi được nuôi dưỡng bằng Từ-Bi. Đó là hai viên đá lớn nhất mà đạo Phật có thể góp vào cho nền tảng văn-hóa ngày mai của nhân-loại.

Biết bao nhiêu người cương quyết tranh đấu cho lập trường của mình, và sau khi đạp bằng bao nhiêu trở ngại, chiến thắng bao nhiêu gian-lao, phá hủy bao nhiêu cơ sở chống đối, giết hại bao nhiêu sinh mạng mới đau xót bừng tỉnh mà nhận thấy rằng lý thuyết mình sai lạc, hoặc ít ra cũng có vài khía cạnh sai lạc. Cái Dũng ở đây đã dùng để thực hiện cái Trí; nhưng đây là một thứ Trí cố chấp không chịu mở cửa để dung hóa, cái Trí độc tài không chấp nhận tự-do tư-tưởng và lại không đi với Bi, nghĩa là với tình thương nhân-loại

Hãy khách quan trong lúc nhận định chân-lý, hãy tự-do trong sự khai mở và phát triển nhận thức, hãy mở cửa đón nhận mọi quan điểm dị biệt, và nhất là hãy cố gắng trừ diệt dục-vọng và vô minh để làm điều kiện cho trí-tuệ phát triển; đó là thực hiện Phật-trí. Hãy can đảm thực hiện tri kiến chân chính của mình, dè dặt và cẩn trọng trong việc tạo nhân chứ không phải chỉ chăm chăm nghĩ đến thành quả; đó là Phật-dũng. Hãy ngăn cản và từ bỏ tất cả những nghiệp nhân nào gây đau khổ và sát hại; đó là Phật-bi. BI, TRÍ, DŨNG tương hợp tương thành là điều kiện căn bản cho sự xây dựng xã-hội và văn hóa mới.

Trong mười năm qua, nghĩa là sau ngày tuyên ngôn Phật-giáo thống-nhất cho đến nay, Phật-tử Việt-Nam chúng ta đã cố gắng nhiều để tự thực hiện, để đưa đạo Phật đến địa vị xứng đáng trong truyền thống dân tộc.

Ngày Phật đản năm nay, mà cũng là ngày kỷ niệm mười năm Thống nhất Phật-giáo Việt-Nam, sau khi tưởng niệm đến Đức Phật trong hoài bão xuất hiện của ngài chúng ta cần suy tưởng để đặt một hướng đi hợp lý cho Phật-giáo trong công cuộc góp phần xây dựng văn hóa dân tộc và xã-hội tương-lai.

Nguyện cầu Đức Bổn-Sư Thích-Ca Mâu-Ni soi sáng cho chúng ta.

Khi chiến tranh chấm dứt chưa phải là cuộc xung đột ý thức hệ đã kết thúc; trái lại nó còn quyết liệt hơn bao giờ hết, nếu không có một sức mạnh hóa giải… Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất cùng đồng bào nguyện sẽ cố gắng tạo thành một sức mạnh hóa giải trong hiện tại và tương lai.

Thông điệp của đức Tăng thống Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất trong mùa Phật Đản 2513–1969 cách đây đã 38 năm nói về sứ mạng hòa bình. Thời gian đó chiến tranh đang tàn phá đất nước, tiêu hao biết bao người và của mà dân tộc Việt Nam phải hứng chịu. Nên hòa bình là khát vọng tha thiết nhất của dân tộc Việt Nam.

Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đã ra đời trong năm 1964 do đức Tăng thống Thích Tịnh Khiết lãnh đạo. Năm mùa Phật Đản trôi qua (từ 1964–1969) bao sóng gió từ mọi phía đến với Giáo Hội. Phật giáo Việt Nam vẫn kiên trì chịu đựng cùng với dân tộc như đã chịu đựng suốt gần 2000 năm dưới thời Bắc thuộc của Tàu và Tây thuộc của Pháp.

Thời điểm đó, năm 1969 thông điệp nói rõ: “Chúng ta, những người bên này hay bên kia giới tuyến đã và đang là nạn nhân của cuộc chiến tranh đau khổ này, đã chiến tranh thì có ai sung sướng trừ những kẻ đầu cơ”. Chữ chúng ta mà Giáo hội đã dùng rõ ràng là không hề phân biệt, không một chút đắn đo, không có người thân kẻ thù, mong một sự cảm thông với dân tộc để hưởng ứng lời kêu gọi của Giáo hội.

Đứng trên lập trường dân tộc, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất kêu gọi hòa bình để chấm dứt cảnh đau thương. Dù lúc bấy giờ “Phật giáo Việt Nam đã phải xuất hiện như một lực lượng chuyển đổi tư thế dân tộc, và, cũng từ ngày đó (1963) Phật giáo Việt Nam đã bị biến thành đối tượng chính trong âm mưu triệt hạ của các thế lực vô minh”.

Vô minh ở đây phải hiểu là ý thức hệ với chủ thuyết phi dân tộc, nên thông điệp khẳng định “Chúng ta đã chịu đựng… bền vững”.

Đọc đoạn văn trong Thông điệp trên, chúng ta đã thấy Phật giáo Việt Nam và dân tộc Việt Nam tuy hai mà một, đặc biệt tinh thần tự chủ, tự quyết, tự lập, tự cường mà Phật giáo đã thổi mạnh luồng tư tưởng đó vào quảng đại quần chúng Việt Nam nên Hòa Thượng nguyên Viện Trưởng Viện Hóa Đạo Thích Thiện Hoa, đã từng tuyên bố lúc đó là: “Chúng tôi không thiên tả, cũng không thiên hữu mà chỉ xem quyền lợi của đất nước, của dân tộc là tối thượng”. Và HT. Thích Trí Thủ nguyên Viện Trưởng Viện Hóa Đạo năm 1975 cũng tuyên bố: “Việc gì chúng tôi làm cho Phật giáo là làm cho dân tộc và việc gì chúng tôi làm cho dân tộc tức là làm cho Phật giáo”.

Cũng trong Thông điệp này, Hòa Thượng Tăng Thống đã tiên liệu “Khi chiến tranh chấm dứt chưa phải là cuộc xung đột ý thức hệ đã kết thúc; trái lại nó còn quyết liệt hơn bao giờ hết, nếu không có một sức mạnh hóa giải… Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất cùng đồng bào nguyện sẽ cố gắng tạo thành một sức mạnh hóa giải trong hiện tại và tương lai”.

Ý hướng cao cả và cần thiết đó đã bị thủ tiêu, bị phá hoại không để Giáo hội thực hiện và từ đó đến nay Phật giáo Việt Nam vẫn là nạn nhân. Không những là nạn nhân vì ngoại chướng mà còn là nạn nhân của nội ma. Và cũng do đó mà tiềm lực lớn lao của Phật giáo đã bị phân hóa, chưa thực hiện được hoài bão của tiền nhân, của thầy tổ.

Người con Phật phải thể hiện lòng từ bi hỷ xã, áp dụng Tứ Vô Lượng Tâm, phải yêu nước thương dân bằng ngôn lẫn hành. Phải kính thầy mến đạo bằng ý chí và tâm thành mới mong tiến kịp với bước nhảy của khoa học, với xu thế trong thời đại mới để trực tiếp cùng với dân tộc tái tạo hoàng kim Lý Trần mà tự đáy lòng của bất cứ người Việt yêu nước nào cũng mong muốn.

Trong xu hướng toàn cầu hóa mọi sinh hoạt, mùa Phật Đản năm nay (29/05/2007 – PL.2551), ông Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc cũng gởi thông điệp Phật Đản đến tất cả mọi người, có những câu, những ý gần như lập lại thông điệp của đức Tăng Thống trước đây 38 năm.

Ông Ban-Ki-Moon nói: “Những yếu tính từ bi, trí tuệ và hòa bình được đức Phật thuyết giảng, những giá trị này tồn tại vĩnh cửu, và chỉ có những giáo thuyết này mới xóa được sự ngăn cách càng ngày càng lớn giữa con người và các cộng đồng quốc gia với nhau.

Việc này đòi hỏi mỗi chúng ta phóng tầm nhìn vượt ra ngoài tính ích kỷ, hạn cuộc hẹp hòi của mình… Hãy cương quyết cư xử độ lượng và khách quan đối với nhau, không mang tâm hận thù xấu ác. Hãy cố gắng tu bồi cho lòng yêu thương của chúng ta đới với thế giới xung quanh chúng ta”.

Quả đúng như thế, thông điệp của đức Tăng Thống đã đi trước thời đại.

Gửi bình luận

↑