Lời Đầu – Định Hướng

Lời đầu
Quy đầu đảnh lễ Tam Bảo phụng thỉnh chứng minh.
Vọng hướng hồn thiêng đất nước gia hộ.
*
Trong suốt thời gian phụng sự, mấy chục năm qua, viết những giòng chữ trong đây phát xuất từ tâm thành của một Phật tử, một công dân biết yêu quê hương, dân tộc, muốn bộc bạch nỗi lòng trong ý hướng “ẩn ác dương thiện”.
Còn nghĩ rằng “Đời là thế, vốn dĩ đời là thế”, “giữa cuộc đời cũng chỉ thế mà thôi”.
Trước hiên nhà, lá rụng đầy sân,
Chớm lộc mới, ngát hương đường cũ.
Vậy nên:
Hương xưa còn đọng trên đường,
Ngàn lau lách ấy xem dường trinh nguyên.
Âm ba tiếng hát đỗ quyên,
Lung linh trăng nước xe duyên sơn hà.
Thân kính,
Thích Khinh An
(Minh Tâm)
ĐỊNH HƯỚNG
Năm 1952, đã 52 năm trôi qua (1952 – 2004), hơn nửa thế kỷ, các nhà lãnh đạo Phật giáo đã có một nhận định, một tầm nhìn vượt không gian và thời gian. Trong bài Diễn văn Khai mạc Tổng Hội Đồng Hội Việt Nam Phật học lần thứ 21, câu cuối của đoạn mở đầu các Ngài đã nói: “Một định tâm không lay chuyển trước thời cuộc và một trí giác vạch rõ phương hướng phải đi cho tín đồ”.
Thời đó, 1952, chiến tranh Việt Nam chống thực dân Pháp. Đất nước chưa bị chia cắt, mọi sinh hoạt của Phật giáo bị đạo dụ số 10 khống chế mà các Ngài đã khẳng định “một định tâm không lay chuyển” rồi “vạch rõ phương hướng phải đi cho tín đồ” hướng đi đó, trọng tâm của bài diễn văn, các Ngài nêu lên ba điểm:
“Phải làm sao cho Hội có ý thức mình là Hội viên của Hội, biết vinh quang cái vinh quang của Hội, biết tủi nhục cái tủi nhục của Hội, phải xem Hội của mình, mình của Hội… Một Hội liên hiệp nhau lại soi sáng và hướng dẫn nhau trong sự TU và HỌC Chánh pháp. Không những như vậy mà thôi, mà phải có ý thức ấy Hội ta mới thành một lực lượng có thực lực để Hoằng pháp và nhất là để Hộ pháp”.
Điểm này, tư cách và lập trường lãnh đạo của Tổng Hội lúc bấy giờ quả siêu tuyệt. Thật cảm khái, thật oai hùng, khi các Ngài đã định rõ một lập trường minh bạch, công khai, gieo ý thức cho tín đồ, trong bổn phận tu và học Chánh pháp chưa đủ mà phải Hoằng pháp và nhất là Hộ pháp. Hoằng pháp đã khó mà Hộ pháp cũng chẳng dễ gì dưới cái thời mà đất nước bị qua phân, người dân bị đô hộ, các thế lực vô minh trong lẫn ngoài nước liên kết để triệt tiêu Phật giáo và văn hóa Việt Nam. Vậy mà các Ngài lãnh đạo Phật giáo lúc này với tinh thần vô úy đã định rõ một hướng đi đích thực và cấp thiết. Như thế, hôm nay, quả thật chúng ta khó mà nghĩ bàn.
“Là Hội Phật học nghĩa là một Hội thực hành Chánh pháp… Hội ta phải tinh tiến. Đã tiến mà phải tiến cho tinh theo tinh thần Chánh pháp. Bởi vậy, chúng ta không được ngưng đọng Hội lại nơi một hình thức Hội trong việc đóng góp tiền, chung sức mà thôi. Mà tất cả những điều ấy phải bước tới một cái gì. Cái gì đó đương nhiên là căn bản của Hội. Tức là sự học cho hiểu Chánh pháp. Học cho hiểu chứ không phải học cho biết để làm khẩu đầu thì chỉ để phê bình hơn kém. Cho nên việc học Chánh pháp đối với Hội ngày nay, bên cạnh cái khuyết điểm chưa được mở, có một điều mà danh từ khuyết điểm vẫn không đủ diễn đạt, ấy là cái lệ có người đem việc học đối lập nhau…”.
Tất cả Tăng Ni và Phật tử chúng ta ngày nay (2004) trong Phật giáo, nhìn rõ thực trạng sinh hoạt Phật giáo, có phải các Ngài đã nói trước đây 52 năm có khác? Hơn nữa thế kỷ mà chúng ta có tiến bộ chút nào không? Có người không chịu học, có người học mà không hiểu, có người hiểu mà không thực hành, có người thực hành mà theo bản năng cá nhân, nghĩa là biên kiến, kiến thủ và đưa cái ta, cái ngã ra trước, không những đối lập nhau mà tệ hơn chữ đối lập nữa. Vậy có đau cho Phật giáo trong thời đại này không? Khi thấy rõ vấn đề, chúng ta phải làm gì để gọi là góp phần vào tòa nhà Phật giáo hay tiếp tục chia rẽ, đố kỵ, tranh chấp, bị thế quyền sai sử mà làm cho Phật giáo Việt Nam suy sụp thêm! Nếu vậy, thiệt hại không chỉ riêng Phật giáo mà cả dân tộc sẽ thiệt hại theo.
“Đây mới là điểm cần thiết, vì nó là vấn đề căn bản. Ấy là vấn đề đào tạo Tăng tài… Muốn Hội viên học hiểu Chánh pháp mà không đạt được như ý muốn tự mấy năm nay cho đến bây giờ là vì thiếu Tăng tài. Quá khứ như vậy, hiện tại như vậy và vị lai cũng sẽ chắc chắn không hơn gì. Thiếu Tăng tài là Hội thiếu người chủ trì, người thừa kế. Phát triển hình thức, phát triển tổ chức mà chi, khi người kế thừa không có. Đặt vấn đề đào tạo Tăng tài, việc đó đã trở thành quan trọng bậc nhất với tính cách vô cùng cấp bách và cần thiết”.
Nói là làm và các Ngài đã làm được, các Phật Học Viện đã đào tạo khá nhiều nhân tài và gánh vác Phật sự trên nhiều lãnh vực: Giáo sư, Giảng sư, Kinh sư, Hiệu trưởng, Giám đốc các trường Bồ Đề, Giám đốc các Cô, Ký nhi viện, các Trung tâm Xã Hội và Từ thiện, Bác sĩ, Dược sĩ, Kiến trúc sư, lãnh đạo các cơ sở hành chánh của Giáo Hội, Giám đốc các nhà in, nhà xuất bản, báo chí… đã tạo nên một sắc thái mới cho Giáo Hội. Nhưng không lâu, thời cuộc đã làm giảm sút tiềm năng của Giáo Hội quá tàn nhẫn và nhanh chóng. Hiện nay, Trường Phật Học quá nhiều, nhiều hơn bao giờ hết, các khóa Giảng sư cũng nhiều, Bồi dưỡng Trú trì cũng lắm, nhưng nhìn sâu vào chất lượng đào tạo không khỏi đau lòng, có các Ban Giám hiệu, các vị Giáo thọ có tâm huyết, muốn và rất muốn, nỗ lực xoay xở để làm được cái gì cho hậu thế, nhưng rồi, lực bất tòng tâm, cũng lắc đầu xuôi tay mặc cho thế sự. Còn một số khác, ôi! sanh tử phù đao chặt sau lưng, cái bả lợi danh đầy ắp trước ngực. Tội cho lớp Tăng Ni trẻ, có tâm cầu học, có óc cầu tiến, có nhiệt huyết lo cho Đạo pháp. Nhưng học ai? Ai dạy? Dạy cái gì? Cũng cử nhân, cũng tiến sĩ, nhưng thực học, thực tu, thực tài, thực chứng được bao nhiêu? Ít lắm phải không? Tại sao như thế? Để rồi tương lai Giáo Hội? Lịch sử chứng minh? Phật tử mong cầu? Đất nước hi vọng? Chúng ta, Phật giáo hiện tại trả lời với tiền nhân, với hậu thế thế nào!
Đọc lại bài “Diễn văn Khai mạc Tổng Hội Đồng của Hội Việt Nam Phật học lần thứ 21 năm 1952 đăng trong Viên Âm (mất bìa) ở sau ghi: Kiểm duyệt số 122 ngày 27/02/1953 (nhà in Khánh Quỳnh – Huế) mà lòng tôi xúc động tự tâm cang nên viết bài này để nhắc nhở, nhất là tự nhắc nhở mình và đệ tử mình, Tăng cũng như Tục.
Mùa An Cư 2548
Cứ mỗi mùa Phật Đản đến, Đức Tăng Thống GHPGVNTN vị lãnh đạo tinh thần tối cao của 80% dân tộc Việt Nam lại lên tiếng kêu gọi Hòa Bình – Lời kêu gọi vừa thiết tha, âm ba như thoát ra từ trong tận cùng đau khổ, vừa hùng tráng hơn cả nghiêm lệnh của đấng minh quân. Vượt xa hơn, không riêng cho dân tộc Việt Nam và tình nhân loại cũng được đánh thức “Cuộc chiến tranh Việt Nam đã mở rộng tới 2 dân tộc lân bang – Khổ đau đã đến nhiều với những người vô tội đó cũng như đã kéo dài trên đất nước Việt Nam nhiều năm nay”… “Chúng tôi kêu gọi các thế lực đang có uy thế mạnh trong đời sống nhân loại hãy chấm dứt những hành động chiến tranh. Chúng tôi kêu gọi toàn thể nhân loại hãy vì tình thương và tiến bộ góp sức với chúng tôi làm cho các thế lực chủ chiến phải chấm dứt hành động gieo rắc đau khổ để nhân loại được sống trong một kỷ nguyên của tình người rộng mở”.
Với Đạo Pháp – Phật giáo – Một tôn giáo phát triển bằng tình thương, bằng bao dung, bằng hòa bình lại luôn luôn bị chụp mũ, bị nhuộm đỏ nhuộm xanh, nhất là ở Việt Nam, thực trạng ấy Ngài phải cảnh giác “Một tôn giáo hòa bình bao la giờ cũng là nạn nhân của thế lực gây chiến”. Trên lập trường dân tộc, một dân tộc mà giáo thuyết hòa bình đã ăn sâu vào tiềm thức tủy não cũng như đa số các dân tộc Á Đông, Ngài xác định một sự kiện thực tế “Đa số dân chúng Việt Nam là những người Hòa bình, đa số dân chúng Đông Nam Á là những người Hòa bình. Xin đừng một ai nhân danh chúng ta để tạo và nuôi dưỡng chiến tranh thêm nữa”.
Không như bao lời kêu gọi khác, nhiều mỹ ngữ mà không có thực tâm, hay có lý mà không hề có sự. Phật giáo Việt Nam kêu gọi hòa bình và triển khai con đường “HÓA GIẢI CHIẾN TRANH” bằng chính cả khả năng hành động, lấy sức mạnh nhân dân, ước vọng dân tộc tác động trên chính trường Việt Nam và quốc tế “Sự thống nhất không chỉ dưới hình thức kết hợp mà sự thống nhất đích thực là do tâm hồn mỗi người cùng hướng vào một mục tiêu, cùng thực hiện một ý hướng và tự đặt mình vào tập thể – Các cấp giáo hội đã đưa đồng bào Phật tử ở mọi nơi đến sự thống nhất tâm hồn đó, đồng bào Phật tử trong cũng như ngoài nước sớm kiện toàn tổ chức với một tâm hồn thống nhất và ý hướng hóa giải. Hóa giải hận thù, hóa giải chiến tranh, hóa giải lối sống nhằm nâng cao giá trị con người nơi chính chúng ta, nơi dân tộc ta và toàn thế giới”(*).
Vạch rõ một con đường hóa giải chiến tranh như vậy, tín đồ Phật giáo nhất là Phật tử Việt Nam, nhân mùa Phật Đản 2515 lại về, chúng ta đọc lại hành động và tin tưởng “thông điệp hòa bình” của vị lãnh đạo tối cao “Tin tưởng mãnh liệt như vậy nên dù cho nhất thời chúng ta có phải chịu nhiều thử thách, nhưng nhất định chúng ta không đánh mất tình thương, thương mình, thương những người đồng cảnh ngộ, thương kẻ thù địch của mình thì sớm muộn gì chúng ta cũng có thể chuyển nổi hận thù thành nguồn thương yêu rộng lớn. Hòa bình nhân loại lâu dài chỉ có thể đến khi tình thương thể hiện”.
Mùa Sen 2515
(*) Những đoạn in chữ đậm đều trích nguyên văn Thông điệp Phật Đản 2514 của Đức Tăng Thống.