Thứ Sáu, ngày 16 tháng 10 năm 2026

Nguyên Phong Phật Ân

Trang nhà chùa Phật Ân – Ngôi Già-lam hồn Việt

Dấu Chân Trên Đá

Đạo Tình – Chùa Nguyên Phong

Bận rộn với công việc, đang sửa Chánh điện vì thủ tín lại thêm sự cần thiết của một chuyến đi hoằng hóa. Lần này, năm thứ ba thầy Trí Nguyên cùng tôi đi Hà Nội để phân phối 59 ngôi tượng Quan Âm lộ thiên cao 2m5 cho 59 ngôi chùa ở các tỉnh phía Bắc.

Điểm hẹn tại phòng đợi ở phi trường Tân Sơn Nhất, chúng tôi gặp nhau lúc 6 giờ sáng ngày 18/03/2000. Máy bay cất cánh đúng giờ – tiếp viên, như thông lệ, chào hỏi lịch sự và hướng dẫn hành khách cách xử lý khi có sự cố. Nghe lời chào trang trọng của Cơ trưởng và Phi hành đoàn, chúng tôi mới biết trên máy bay có phái đoàn Chính phủ do ông Tổng Bí thư dẫn đầu. Hèn gì khi lên máy bay tiếp viên đã dành một số ghế phía trước. Hơi ngạc nhiên vì sao Phái đoàn Chính phủ quan trọng như thế mà đi chung với hành khách dân sự? Có lẽ các Ngài đi như thế để đỡ tốn ngân quỹ Quốc gia mà có dịp sát với dân tình, dân chủ hóa phương thức lãnh đạo. Nếu vậy, tư cách một công dân xin được nói lời cảm phục.

Khi máy bay sắp hạ xuống phi trường Nội Bài, xướng ngôn viên trong Phi hành đoàn cũng nói lời chúc thân mật và xin hành khách thủng thỉnh xuống sau, nhường cho Phái đoàn Chính phủ xuống trước – chỉ có điều, chúng tôi vì lịch sự không dám cười to, có lẽ thiếu bình tĩnh vì lúc nãy thì trân trọng kính chào ông TBT LKP, thì lần này lại trân trọng kính chào Thủ tướng. Không rõ, sau đó cô ta có bị khiển trách hay không như tôi thì: Định ý từ bỏ cái nghề xướng ngôn càng rõ nét (vì tôi cũng là xướng ngôn viên chuyên nghiệp).

Đón chúng tôi tại phòng khách của phi trường Nội Bài, người đón không đông hơn hai năm trước với lý do là tưởng chúng tôi không ra vì có trục trặc, như vậy cũng đẹp lắm rồi, ồn ào lắm ích gì mà đôi lúc làm phiền kẻ khác.

Trời Hà Nội lạnh và mưa, khí hậu rất thích hợp với tôi, do đó mà có lẽ tôi ăn nhiều, ngủ được và sẽ mập ra trong chuyến đi hoằng hóa này.

* * *

Căn phòng chúng tôi ở năm trước, bác Sâm đã sửa thành chỗ thờ cửu huyền rất trang nghiêm. Khám thờ sơn son thiếp vàng, đầy đủ lỗ bộ, lối thờ tại tư gia như thế quả thật miền Trung và miền Nam ít có. Vì thế, nên chúng tôi đã sử dụng trọn phòng khách, phòng ngủ của chủ nhân. Ban điều hành hội ý ngay tại phòng khách để giải quyết sự trở ngại ở địa phương, nơi tạm để 59 ngôi tượng để các nơi về thỉnh. Sự việc chỉ do chủ quan và thông báo không rõ ràng, gây hiểu lầm. Chúng tôi tự tin mọi việc sẽ tốt đẹp, nên chờ đợi đại diện ban tổ chức đi giải thích. Hôm sau, nhờ thiện chí của chính quyền địa phương, cụ Thanh Tứ, Phó Chủ tịch hội đồng trị sự TW và ông Phó ban Tôn giáo Chính phủ đã thân hành về tận nơi giải quyết một cách tốt đẹp sau khi đã tìm hiểu rõ ràng sự việc. Lúc trở về Hà Nội các cụ còn dặn kỹ “Chính quyền và Giáo hội địa phương cố gắng tổ chức thật chu đáo như chương trình đã vạch để cho các cụ (chúng tôi) được vui lòng. Các nơi xa cứ lần lượt về chùa Sùng Bảo thỉnh tượng”. Mọi người hoan hỷ cười tươi trong một bữa cơm thân mật có nhiều rau luộc.

* * *

Cô Tuệ Hạnh, ít tuổi, nhỏ người nhưng chí ý rất tốt, kiên định được lập trường, và khá khôn khéo cách hành xử.

Lễ khánh thành chùa Sùng Bảo do cô trú trì được tiến hành trang trọng. Nhà Tổ, trai đường, phòng tăng cao ráo khang trang. Kinh phí trên 1 tỷ. Trong dịp lễ này thầy Trí Nguyên đã có cơ hội công khai hóa mọi sinh hoạt và tài chánh được thu vào băng hình chứng minh những Phật sự đã thực hiện thành công. Đồng thời, các chùa ở những tỉnh có xin thỉnh tượng Quan Âm về thờ cũng có dịp hiểu hơn, có kinh nghiệm hơn trong Phật sự. Khi tôi ghi lại những dòng này thì được tin: 59 ngôi tượng đã được thỉnh về các chùa hơn ¾ long trọng và vui vẻ, nhất là nhân dân và chính quyền các địa phương tham gia lễ rước tượng đông vui, cảm động. Chúng tôi xin chia niềm vui này với Phật giáo và nhân dân miền Bắc.

* * *

Trong những ngày sau đó chúng tôi về ở chùa Phong Hanh (Hải Dương) do cô Diệu Hương trú trì, thăm chùa Vạn Phúc của cô Diệu Ngân. Dự lễ khánh thành chùa Đống Cao, thăm xã giao Ban Tôn giáo và MTTQ tỉnh Hưng Yên, thăm chùa Dư Hàng của TT. Quảng Tùng, chùa Phổ Chiếu của TT. Thanh Giác, thăm Hòa thượng Pháp Chủ và H.T. Thanh Tứ tại chùa Quán Sứ. Thăm chùa Liên Phái, chùa Đồng Quan và chiêm ngưỡng tượng Thiên Thủ Thiên Nhãn bằng gỗ cao 6 mét rất vĩ đại. Chỉ mới mấy năm phục hưng mà chư tôn đức các chùa này đã tái thiết, kiến tạo thêm nhiều công trình rất lớn chứng tỏ tinh thần Phật giáo miền Bắc rất kiên cường – đặc biệt nhất là kiến tạo mới hay tu sửa đều giữ nguyên nét văn hóa độc đáo của Phật giáo và dân tộc, vật dụng chủ yếu là gỗ, nhiều nhất là gỗ Lim, khác xa với các chùa miền Nam đa số là bê tông, sắt thép, vài chùa có vẻ vi-la, nặng nề mà độ bền không hơn được.

* * *

Ngoài chương trình thăm viếng, tìm hiểu, học hỏi ấy, chúng tôi đặc biệt chú trọng công tác xã hội và từ thiện được TT. Thanh Giác và quý cô Diệu Hương, Diệu Ngân tổ chức và hướng dẫn thăm Trường nuôi dạy trẻ khuyết tật tại tỉnh Hải Dương, ông Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ tỉnh, ông Phó Chủ tịch MTTQ tỉnh tiếp đoàn rất ân cần, thân mật. Thăm và tặng quà cho các cháu, chụp ảnh lưu niệm rồi tiễn chúng tôi ra xe với nhiều lưu luyến.

* * *

Đến thăm làng phong Vân Môn (Thái Bình). Làng nằm dọc theo bờ đê phụ sông Hồng, đất đai khá mầu mỡ, với diện tích làng trên 50 ha, có đầy đủ trạm xá, trường học… Ban Quản đốc tiếp đoàn tại văn phòng rồi thông báo bệnh nhân tập trung tại chùa.

Cả trăm bệnh nhân đón chúng tôi với lời niệm Phật râm ran. Nhìn họ chấp tay trong tư thế co quắp và lối đứng nghiêng ngã mà lòng thấy nao nao, bệnh tật đã hành hạ, tàn phá thân thể họ. Thầy Trí Nguyên với tư cách Trưởng đoàn trao quà đến Ban Giám đốc, bệnh nhân và nhường lời thăm hỏi an ủi bệnh nhân cho tôi.

Thay mặt đoàn và các nhà hảo tâm tôi cám ơn Chính quyền địa phương, ban Giám đốc đã tạo điều kiện thuận lợi cho đoàn thực hiện từ tâm một cách tốt đẹp.

Tán thán quý Thượng Tọa, Đại Đức đã giúp cho làng phong ở đây có một ngôi chùa khang trang, đẹp thoáng để các bệnh nhân có nơi an ủi tinh thần, có nơi gởi gắm đời sống tâm linh. Với các bệnh nhân tôi khuyên họ chấp nhận hoàn cảnh thực tế, nỗ lực tu nhân tích đức, kiên trì chánh niệm, tưởng nhớ Phật tự tâm (tự lực), nhiếp tâm niệm Phật cầu chư Phật gia hộ (tha lực) từ đó sẽ giải trừ từ từ nghiệp bệnh, gạt bỏ tâm lý mặc cảm tự ti mới tìm được ý nghĩa của cuộc sống…

Chúng tôi hứa sẽ cúng một ngôi tượng Quan Âm lộ thiên để thiết trí trước sân chùa. Các bệnh nhân không ngớt niệm Phật và tỏ lời cám ơn trong nước mắt.

Trên đường về, xe hư, ngồi dọc đường suốt mấy giờ. TT. Giác Toàn từ Sài Gòn ra nghe chúng tôi đi Thái Bình ngồi chờ cơm. Có dịp, chúng tôi tâm sự, trao đổi ý kiến về Phật sự, việc Giáo hội, việc đào tạo tăng tài, việc GĐPT, việc từ thiện xã hội. Tuy có vài điểm chưa thông suốt nhưng chúng tôi cũng đã có dịp hiểu và gần gũi nhau hơn.

* * *

Hôm sau, mới 6 giờ sáng, TT. Thanh Giác từ Hà Nội về đã dẫn chúng tôi đi trại phong Chí Linh (Hải Dương). Trước khi vào làng ông Phó Chủ tịch MTTQ tỉnh và ông Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ tỉnh, đầy đủ Ban Chấp hành đón mời chúng tôi ghé thăm tại Văn phòng UBND tỉnh, trao đổi ý kiến để có sự phối hợp thống nhất. Tấm chân tình mà các cấp Chính quyền tại đây đã gieo trong lòng chúng tôi sự cảm thông, kính mến nhau trong mục đích phục vụ nhân dân, xóa bớt nỗi đau và sự bất hạnh của bệnh nhân. Trại phong Chí Linh là một thắng cảnh, đường sá được tổ chức quy củ, rộng rãi, sạch sẽ, ngang dọc phân minh trong một rừng vải thiều xanh tốt.

Đến nơi, một cảnh tượng độc đáo hiện ra, tôi vô cùng xúc động khi nhìn các Phật tử bệnh nhân, tay chân co quắp đứng từng hàng xúc từng rổ đất, ì ạch đem vào đổ nền chùa đang xây dựng. Ban Giám đốc cũng ra tại chùa đón đoàn. Một hồ nước chưa hình thành với đế tượng Quan Âm đang xây cất giữa trung tâm hồ, một chân cầu dài non 50 mét từ sân chùa dẫn ra tượng. Đất ở đây rất quý hiếm thế mà Ban Giám đốc cũng dành hơn ba công đất (3000m2) để xây chùa, làm hồ, dựng tượng chứng tỏ quý vị rất quan tâm đến đời sống tâm linh của bệnh nhân.

Thăm viếng, tặng quà, chúc lành nhau, xong, chúng tôi tạm biệt nhau trong ánh mắt cảm tình sâu đậm. Về chùa Phổ Chiếu, TT. Thanh Giác làm trú trì, TT. Quảng Tùng đợi cơm. Bữa cơm thật thịnh soạn, gạo Tám thơm ngang ngát mùi hương, bụng đã no mà miệng vẫn còn muốn ăn tiếp (các bạn đừng cười tôi tham ăn mà vì cái không khí vui vẻ, thân mật của chúng tôi, các tu sĩ Bắc, Nam, Trung nó đậm đà chí thiết quá).

Ăn xong, chúng tôi tham quan chùa Phổ Chiếu, các công trình đa số mới trùng tu, khắp chùa đều giữ nét văn hóa Đông phương đượm màu sắc dân tộc, đặc biệt là ngôi chùa một cột như đem từ Hà Nội về trong một hồ sen rộng hơn, có rồng chầu bốn góc hồ làm tăng thêm nét duyên dáng, lại thêm ngôi chùa toàn bằng gỗ Lim, vì mới làm nên trông có vẻ kiên cố hơn chùa Diên Hựu Hà Nội.

Không có thời gian nghỉ trưa, chúng tôi đến thăm chùa Dư Hàng. Cảnh trí khác xa những năm trước, tháp Đa Bảo vươn cao, thợ chạm, thợ mộc đang thi công đục đẽo. Độc đáo vui thú nhất là chúng tôi được chiêm bái ngôi tượng đức Thích Ca và đức Đa Bảo cùng ngồi chung một tòa sen như phẩm hiện Bảo tháp trong kinh Pháp Hoa diễn tả, nét mặt hai người tươi vui giải thoát, dáng điệu khó có ngôn ngữ diễn tả cho tròn đầy. Ngôi tượng này TT. Quảng Tùng mới đúc bằng đồng để tôn trí trong tháp Đa Bảo.

Như đã định, ông Phó Chủ tịch MTTQ thành phố Hải Phòng và Chữ thập đỏ dẫn chúng tôi đến thăm Trại dưỡng lão, quy tụ người già cả neo đơn. Khu trại này không rộng nhưng tổ chức có quy củ. Các cụ hân hoan đón đoàn, có cụ rưng rưng nước mắt. Cảm động nhất là một bà cụ Phật tử của TT. Thanh Giác đã ở đây hơn 2 năm, nay gặp thầy, mừng rỡ cầm tay thầy lắc mạnh “Con nhớ thầy lắm, thầy ơi, thầy có nhớ con không? Ở đây con không đi chùa được, nhớ Phật con lên nhà vong (nhà để quan tài khi các cụ tạ thế) để lạy Phật. Khi nào con chết thầy nhớ cầu siêu cho con, gia đình con không còn ai cả, thầy nhớ nghe thầy”. TT. Thanh Giác dường như cũng mủi lòng! Tôi quay mặt nhìn nơi khác, lau vội những giọt nước mắt đã chảy xuống lúc nào không hay.

Nhà vong, một ngôi nhà nhỏ ngăn đôi, phòng trong để mấy cái giường có 2, 3 cụ quá già, đang đau yếu nằm rên, có lẽ đang tâm sự với tử thần bên cạnh. Phòng ngoài làm nhà vong, một cái bàn chẳng ra bàn để bát nhang khi các cụ chết, một ảnh đức Thích Ca 3x4cm (kể cả khung) treo trên tường để các cụ cầu nguyện. Theo yêu cầu của Ban Giám đốc chúng tôi hứa cúng tượng Phật Di Đà, bàn để thờ, đèn và chuông mõ và đề nghị Ban Giám đốc mở rộng phòng để quan tài, thiết trí đúng cách tiền Phật hậu linh. Khi ra xe tôi hỏi nhỏ nhân viên văn phòng: “Sao không thấy nhà nguyện của các tôn giáo khác”. Vị ấy cười trả lời tự nhiên: “Trong đây, đa số tuyệt đối là Phật giáo, còn lại vài vị là đạo thờ ông bà, nhưng khi gần chết các cụ cũng xin tụng kinh và làm lễ tang theo Phật giáo mà thôi”. Tôi hỏi thêm: “Thế còn quý vị trong Ban Giám đốc”. Vị ấy tế nhị trả lời: “Thầy thừa biết, tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, chỉ khác thấy trước hay thấy sau mà thôi”. Tôi lên xe mà tâm còn xao xuyến, ngoảnh đầu nhìn lại với nhiều nỗi cảm thương.

* * *

Đã có điện thoại báo trước là chúng tôi về trễ vì lộ trình xa lại thêm vướng víu việc đón đưa bịn rịn. Đến một đoạn đường cấm vì đường đang làm nhưng tài xế sợ trễ nên cứ lái xe chạy qua, bị cảnh sát giao thông chận lại, tài xế nhỏ nhẹ mấy câu, chỉ chỏ chúng tôi tâm sự gì đó, anh cảnh sát giao thông cười tươi đưa tay lên chào đoàn theo phong độ cán bộ có huấn luyện rồi dẹp đường để xe chúng tôi đi qua. Nhờ vậy, mà đoàn chúng tôi về trụ sở Hội Chữ thập đỏ thành phố Hải Phòng ít trễ.

Đón chúng tôi tại phòng khách của Hội ở lầu 3 vừa trang trọng vừa thân tình trao đổi với nhau nhiều vấn đề xã hội, từ thiện rất thiết thực. Nghe báo cáo, chúng tôi cảm phục việc làm thực tế của Hội Chữ thập đỏ Hải Phòng cũng như Hải Dương, nhất là các chốt cấp cứu ở Quốc lộ 5 đã cứu rất nhiều nhân mạng trên trục lộ này. Có lẽ, xét cần, các Hội Chữ thập đỏ trên toàn quốc nên bắt chước mô hình này nhất là dọc theo Quốc lộ 1, Quốc lộ 51, Quốc lộ 20 thường xảy ra tai nạn giao thông nhất.

Cuối buổi thăm viếng, bất ngờ, vị Hội trưởng Hội Chữ thập đỏ Hải Phòng đã trao tặng chúng tôi huy chương kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Hội Chữ thập đỏ Việt Nam vì chúng tôi là hai vị ân nhân đầu tiên của một chương trình từ thiện đặc biệt là mở trường nuôi dạy các em bị chất độc màu da cam mà Hội đang bắt đầu thực hiện. Chúng tôi ra xe trở về trong tình cảm thấm đượm nghĩa nhân, bắt tay nhau hẹn ngày tái ngộ.

* * *

Vì trời sắp tối, TT. Thanh Giác xuống xe cuốc bộ giữa phố phường xứ Cảng. Tôi cười bảo “Đừng lo, Ngài là Thổ Địa, cuốc bộ vài chục mét thôi, sẽ có đệ tử rề xe đón đường đưa về chùa an toàn”. Trở về chùa Phong Hanh, chúng tôi điện thoại hỏi thăm, quả thật như thế.

Trên đường về, qua các trạm thu lệ phí, cô Diệu Ngân đã chuẩn bị sẵn một số ảnh Phật và chuỗi hạt đeo tay, tặng cho các nhân viên gác trạm, anh em vui mừng đón nhận rất cung kính. Tôi tự nhủ “Phật giáo trong quần chúng, đức Phật trong mỗi người, đạo Phật bàng bạc khắp nơi, có điều ai đã, ai chưa và ai sẽ thấy đạo Phật?”.

* * *

Rời Hà Nội, trời lất phất mưa, cũng những con người tiễn đưa, đượm tình đạo, đẹp tình đời, những lời hứa hẹn, những ánh mắt thân thương, những đôi tay chấp thành búp sen thành kính vái chào, sự lưu luyến thầy trò trong nhà khách của phi trường Nội Bài làm mọi người chăm nhìn ngạc nhiên qua ánh mắt nhất là quá nhiều người ngoại quốc trong chuyến bay này – thì ra, chuyến bay này đi Mã Lai mà ghé vào Sài Gòn để lấy thêm hành khách. Ra Hà Nội, vào Sài Gòn lần này chúng tôi đều đi các chuyến bay đặc biệt – nhờ vậy, khỏe hơn.

* * *

Hà Nội – Hải Dương – Hưng Yên – Thái Bình – Hải Phòng – nhớ mãi, nhân danh, địa danh, mối thâm tình mang nặng trong lòng. Nếu còn duyên, năm sau gặp lại.

Từ ngày thành lập (1981) đây là lần thứ tư Chánh điện Nguyên Phong (Phật Ân) được tu sửa (2000), nói là tu sửa cho nhẹ nhàng chứ thật đúng nghĩa là 4 lần làm lại hoàn toàn, nhưng lối làm lại của Nguyên Phong (Phật Ân) có những điểm cần nói, cần ghi lại cho thế hệ sau, hay những người quan tâm dành cho Nguyên Phong (Phật Ân) một đạo tình thắm thiết, để hiểu Nguyên Phong (Phật Ân) hơn, thông cảm hơn và nhất là trực tiếp hay gián tiếp, đóng góp với Nguyên Phong (Phật Ân) nhân, tài, vật lực, kể cả quý vị sinh tâm hoan hỷ thăm hỏi, khuyến khích, góp ý để Nguyên Phong (Phật Ân) có được ngày hôm nay. Nguyên Phong (Phật Ân) xin được thành tâm hồi hướng lên Tam Bảo chứng minh và niệm ân tất cả và chắc ai cũng biết, cũng thấy Nguyên Phong (Phật Ân) có do nhu cầu cần thiết ban đầu phải có chỗ ẩn cư lúc mới “ủ tờ” về, lần lần vì nhu cầu Tăng chúng đông cần có nơi ăn, chốn ở, rồi vì mối mọt, rắn rít tấn công. Phật tử tới lui thăm viếng. Chánh điện gác gỗ rung rinh, khi Phật tử đông không dám lên, sợ sập – chính vì vậy mà Nguyên Phong (Phật Ân) thay dạng đổi hình chứ không dám tham tâm hay vọng cầu “Chùa to Phật lớn”. Vì vậy, xin thưa:

  • ÔN CỐ TRI TÂN

Chánh điện Nguyên Phong (Phật Ân) đầu tiên (1981) là một cái chòi lá 12m2 vừa là chỗ ăn, chỗ ở, chỗ tụng kinh, chỗ tiếp khách, lợp lá, vách đất, cửa tre – tượng Phật bằng giấy vẽ bút chì, chuông mõ nhỏ xíu để trên bàn kinh ọp ẹp, nhưng rất chi là dễ thương, thanh thoát, nhẹ nhàng.

Chỉ khổ nỗi, rắn, chuột ở trên mái nhà, rít, bò cạp ở trong vách đất và chỉ vài năm thì rã mục, nên phải làm:

  • CHÁNH ĐIỆN THỨ HAI

Năm 1989, trong chùa đã có nhiều vị đến xin tu, lại phải có chỗ tụng kinh, bái sám, ăn ở, được bà con giúp đỡ: Thanh lớn, Thanh nhỏ, anh Mễ, chú Kiên (đội 3), chùa vách đất lợp lá – nền lát gạch tàu, một căn hai chái. Căn giữa thờ Phật, hai chái để ở, cũng tạm qua ngày. Giai đoạn này sinh hoạt cũng đã có sinh khí: Thầy Thanh Huyền, thầy Trừng Thể về an cư, có Quảng Phát về ở, Bạch Văn Nghĩa quy y (có Linh mục Tiến Lộc về dự), bà Đỗ ở Bà Rịa là đại thí chủ lúc này cần nhắc lại để hồi hướng công đức. Chánh điện này cũng trụ một thời gian ngắn, vì lá mục, đất rã, mối mọt tấn công nhưng đã tạo được mấy vị Tỳ Kheo và Sa Di trong thời gian này.

  • CHÁNH ĐIỆN THỨ BA

Ngôi nhà gác gỗ của ông Sáu ở Xuân Lộc được mua về dựng lại năm 1994 làm Chánh điện thứ ba, tầng trên thờ Phật, tầng dưới làm phòng học, lúc này Tăng chúng đã đông, Phật tử khắp nơi cũng tụ hội về trong các lễ lớn, Chánh điện tuy có nghiêm túc hơn nhưng cũng không đủ chỗ chứa, với lối kiến trúc tạm bợ nên cũng ngại mưa to gió lớn. Cuối năm 1999 ảnh hưởng các trận lũ và mùa mưa kéo dài, đất vườn sạt lở, ngôi Chánh điện rung rinh, lại được sự khuyến khích của các thức giả, nhất là thầy Giới Hương, người đã trực tiếp đóng góp công sức xây dựng Nguyên Phong (Phật Ân), phân tích các yếu tố thiên thời, địa lợi, nhân hòa, cần nên làm lại Chánh điện, thế là Chánh điện thứ tư được tiến hành.

  • CHÁNH ĐIỆN THỨ TƯ

Có lẽ, ít chùa nào mà trung bình 4 năm là phá đi làm lại cái mới như Nguyên Phong (Phật Ân). Mới thì có mới nhưng bền thì chẳng bền vì vách đất lợp lá làm sao chịu nổi với mối mọt, mưa rừng gió biển, kể ra như vậy cũng tốt lắm rồi. Hơn thế, tài chánh chi ra quả là quá khiêm tốn làm sao có vật dụng tốt được.

Chánh điện 1          (1981–1989)     tốn

                                                           7.000 đ

Chánh điện 2      (1989–1994)         tốn       

                                1.200.000 đ

Chánh điện 3          (1994–2000)     tốn

                                    10.000.000 đ

Và bây giờ là ngôi Chánh điện thứ tư, lễ đặt đá ngày 14/01 Canh Thìn (18/12/2000) chỉ có 3 pháp hữu: thầy Kiến Tánh, thầy Giải Quảng và thầy Nhật Quang (Thường Chiếu), nội tự có thầy Giới Hương, 5 vị Tỳ Kheo trưởng lão – thắp nhang mật niệm cầu nguyện, không diễn văn, không trống đánh kèn thổi, không và không để cho có, còn nếu có và có thì rất có thể là không.

Chánh điện cũ đã triệt hạ trước 4 ngày, đến ngày 20/01 mới lên Đức Linh chuyển cây gỗ. Chúng tôi tin tưởng “việc Phật, Phật gia hộ” và quả như vậy, tôi ghi lại vài điểm để nhớ và cho môn đệ, hậu duệ thấy chung:

  • KỊP THỜI

Thợ hồ đã xây móng, đúc trụ xong, đang chặt sắt để đúc kiền móng thì anh Làn, Lợi và Thọ là ba vị điều khiển dỡ nhà ở Đức Linh điện về yêu cầu chuyển toàn bộ móng trước và 4 chân cột trước ra thêm 1 mét để chùa rộng thêm và cân xứng – Thợ hồ méo mặt, công quả le lưỡi, chúng điệu lắc đầu. Không suy nghĩ, sau khi điện dò hỏi thước tấc chắc chắn, tôi tập trung nhân sự phân công: 1 tốp phá móng đã xây, 1 tốp đào xây móng khác, 1 tốp đào hầm xeo bẩy 4 trụ sắt đã đúc ra rộng thêm 1 mét. Nhờ vậy, Chánh điện mới cân đối và rộng rãi như hiện nay, chỉ tốn một ít công và hao 4 bao xi măng xây lại một hàng móng. Công việc hoàn tất chỉ một buổi chiều, tuy có mệt nhưng ai cũng cười vui gật đầu vừa ý thấy hàng móng cân xứng, rộng, cao, khá đẹp.

  • NỐI GỖ HAY CIMENT?

Việc dở nhà và di chuyển trở ngại một chút ban đầu nhưng sau đó thông suốt nhờ sự giải quyết khéo léo của Dũng, Thọ và Lợi.

Một nhóm thợ mộc tuyển lựa ở Ngãi Giao và Xuân Sơn trên 10 người che rạp làm hơn 1 tháng ở rừng cao su. Ngôi nhà mua về có 8 cột lớn là tròn còn 8 cột con vuông nên chưa vừa ý. Thế là Lợi phải đi tìm khắp Xuân Lộc mua 8 cột con tròn để thay, suốt 3 ngày không có, điện thoại về chịu thua – may sao đến phút chót có người nhượng 8 cột cái của liếp nhà sắp làm (nghe làm chùa nên họ nhường lại để bòn chút công đức), thế là được như ý.. So 8 cột con mới với 8 cột mẹ thì không tương xứng chiều cao, nếu cưa bớt cột con thì uổng mà chùa bị thấp, nên phải nối cột mẹ bằng bê tông cốt sắt – bàn lui tính tối với trí tuệ tập thể, với sự cố vấn của thầy Giới Hương cuối cùng quyết định đi mua gỗ về nối. Đây là điều rất khó khăn, dù có dư tiền mà gỗ không dễ kiếm, vì lẽ, phải cùng một loại gỗ, một kích cỡ, một số lượng, loại gỗ khác không được, nhỏ một phân không xong, thiếu một tấc cũng chịu. Anh Phấn là người nhanh nhẹn, khôn khép, biết tính toán với chú Trung Thịnh đi tìm mua. Lục lọi khắp vùng Hố Nai là nơi có nhiều gỗ quý. Đến phút chót cũng sắp chịu thua thì Hộ pháp Long thần gia hộ gặp một nhà có 8 khúc gỗ, đúng kích cỡ, đúng loại gỗ, dấu kín trong nhà suốt mấy năm qua dù có người mua cũng không bán, chỉ để dành. Mọi người lại hân hoan nhìn 8 khúc gỗ, thấy rõ là điều vô cùng hi hữu.

  • LỄ

Chùa Nguyên Phong (Phật Ân) làm ít ai biết, nhưng không thiếu lễ nghi:

  • Lễ khai móng, đặt đá ngày 14/01 Canh Thìn (18/02/2000).
  • Lễ thượng lương, 5 giờ sáng ngày 14/02 Canh Thìn (09/03/2000).
  • Lễ an vị ngày 07/04 Canh Thìn (09/05/2000).

Các buổi lễ này được các vị: H.T. Minh Chiếu, T.T. Kiến Tánh, Nhật Quang, Quảng Hạnh, Giải Quảng cùng chú nguyện. Riêng Tăng chúng trong chùa đều cử hành lúc 4 giờ sáng, kinh hành, niệm Phật, trì chú và tụng Phổ Môn hàng ngày trong suốt 3 tháng.

  • LỄ KHÁNH THÀNH

Lễ Phật Đản 2544 được cử hành vào lúc 10 giờ sáng ngày 14/04 Canh Thìn (17/05/2000).

Tham dự có thầy Nhuận Thiền, thầy Viên Như, Chính quyền xã Long Đức và trên 500 Phật tử khắp nơi về dự lễ Phật đản. Tất cả đều là “khách thâm tình vì không mời vẫn đến” nên không có cảnh đón đưa, nghinh rước khách sáo, rườm rà. Không diễn văn khai mạc, không giới thiệu, không phát biểu, không tường trình, không huấn từ, chỉ có lời tuyên bố và cám ơn của Nguyên Phong (Phật Ân) đến những vị trực tiếp hoặc gián tiếp có đóng góp để hình thành ngôi chùa Nguyên Phong (Phật Ân) và mời tất cả cùng “thắp hương khánh thành thay vì cắt băng khánh thành”, ai có hương thì thắp, ai không có hương thì thắp nén hương lòng, vì “nhất niệm thông Tam giới”. Sau đó mượn 120kg bún nối lại thành một sợi dây dài cột 500 người vào gọn trong trai đường của Nguyên Phong với tiếng cười vui rôm rã, đặc biệt là giọng ca “huy chương vàng” của người già trên 60 “chị Vương” đã ngân vang liên tục mấy bài thơ ca ấm tình đạo, đẹp tình đời làm cho không khí vui tươi thân mật tăng lên.

* * *

Sau 3 tháng tròn, chùa Nguyên Phong (Phật Ân) đã hoàn chỉnh, cũng đặt đá, cũng thượng lương, cũng an vị, khánh thành rất nghiêm chỉnh và ngày 25/04 vừa rồi cũng Chẩn tế vào dịp Chung thất thầy Đồng Uy. Vào Chánh điện Nguyên Phong (Phật Ân) bốn phương lộng gió, tám hướng thấy trời, chấp tay hướng lên đức Thế Tôn mà thả hồn vào không gian trầm lắng hay cùng mấy điệu 3 chỏm vang vọng lời kinh, hít thở vào hồn hương bưởi, hương cau, hương sen cho tâm hồn thanh thoát.

Gửi bình luận

↑