Thứ Tư, ngày 14 tháng 10 năm 2026

Nguyên Phong Phật Ân

Trang nhà chùa Phật Ân – Ngôi Già-lam hồn Việt

Dấu Chân Trên Đá

Bốn Diệu Như Một – Một Diệu Nhỏ

  • BỐN DIỆU MỘT NHƯ

Một Như nói trước đó là Như Sơn, huynh trưởng GĐPT Bửu Lâm, có lẽ là nam huynh trưởng duy nhất, rất hăng hái trong việc mượn xe, mua lá, xin cây giúp tôi dựng am tranh, khả năng tuy không nhiều nhưng thiện chí thì có thừa, tính tình hiền từ vui vẻ – nhưng duyên cũng ngắn, chỉ một thời gian 2 năm, vì kinh tế gia đình, Như Sơn chuyển vào Bình Sơn công tác, lấy vợ và ở luôn với quê vợ.

Thứ nữa là bốn Diệu: Diệu Bích, Diệu Trí, Diệu Liên và Diệu Uyển. Bốn Diệu này là đệ tử H.T. Minh Chơn, khi thầy Kiến Tánh về trú trì thì bốn Diệu này trở thành đệ tử y chỉ với thầy Kiến Tánh. Bốn Diệu này gắn bó với chùa Bửu Lâm lâu nhất, dù là công nhân suốt ngày vất vả ngoài lô nhưng tối đến cùng đi chùa Lễ Sám thường xuyên và rất siêng năng trong việc công quả, nhang đèn. Một kỷ niệm khó quên là lúc đi chở lá về lợp cốc cho tôi – Diệu Uyển đã vô ý làm lá trụt kéo theo cả một cái bửng xe. Tôi kịp thời kề vai gồng mình đỡ cả tấm bửng, mấy trăm lá dừa và có cả Diệu Uyển đứng trên. Không hiểu sao, một sức mạnh phi thường, tôi đỡ trên vai mấy trăm ký một lúc khá lâu để những người khác kịp thời cứu nguy, nên không xảy ra tai nạn đáng tiếc, chúng tôi hú hồn. Khi về chùa “ăn mừng” bằng một thời Lễ Phật Sám Hối.

Cuộc sống của bốn Diệu bây giờ theo bốn hướng: Diệu Bích vẫn làm công nhân sống với 2 con, 1 trai 1 gái, bận rộn gia đạo, đóng vai một thiếu phụ “thờ chồng nuôi con” cho tròn chung thủy. Diệu Trí tiếp tục đời công nhân cạo mủ, đóng vai cư sĩ độc thân và vẫn đi chùa như cũ. Diệu Uyển đã cát ái từ thân, đổi pháp danh theo dòng kệ khác, gọi là sư cô Thánh Hưng có danh vọng rõ ràng đang trụ trì một chùa nào đó ở Sông Bé. Còn Diệu Liên được H.T. Minh Chơn cho xuất gia tu học đổi pháp danh là Trung Thanh tự là Chánh Niệm đang chủ hộ chùa Từ Phong.

*

  • MỘT DIỆU NHỎ

Một cô bé nhỏ thó khoảng 13 tuổi thật dễ thương, chiều chiều vác cuốc lên dẫy cỏ trên đám đất của tôi, có điều lạ là cô bé luôn luôn tìm chỗ nào khó nhất mà làm, thấy lạ, tôi chẳng hề lên tiếng. Đến ngày thứ ba, gặp tôi bên bờ suối cô ta chận tôi lại hỏi:

  • Thưa chú, chú có biết thầy Minh Tâm đi đâu không?

Tôi cười thầm, nhưng làm tỉnh trả lời:

  • Mới thấy ổng đứng đó.

Cô bé cảm ơn rồi xách cuốc tới chỗ trủng nước và mắc cở cao nhất chăm chú làm cỏ. Khoảng 1 giờ sau, thầy Kiến Tánh đi đâu về chạy qua gọi:

  • Ê Minh Tâm vào uống nước đã – Tôi ngừng cuốc, lấy cái mũ trên đầu xuống quạt. Cô bé há hốc mồm nhìn sững. Cái đầu trọc lóc của tôi xác minh là Minh Tâm. Cô bé mắc cở, cúi đầu nói nhỏ:
  • Thầy ác lắm, ba ngày nay con tưởng thầy là người làm vườn thuê, ai dè…

Tôi cười lớn – thì ra… ai mà chẳng lầm, cô bé chưa biết tôi, phát tâm tự nguyện làm công quả giúp tôi – Cô đến, tưởng tôi là người làm mướn, tôi thì tưởng cô bé là người làm thuê do thầy Kiến Tánh thuê giúp vì tôi có nhờ – Vì sơ ngộ còn lạ lùng nên chúng tôi không gợi chuyện mà việc ai nấy làm – Tôi lại mặc đồ lao động, tay mang găng, chân đi giày bộ đội, đầu đội mũ két, thì đố ai biết là thầy chùa nên cô bé lầm là phải. Khi cô bé hỏi, tôi tinh nghịch “vọng ngữ” để cô ngạc nhiên cho vui – Ai dè thầy Kiến Tánh làm “bể mánh”. Từ đó thầy trò chúng tôi luôn giúp nhau làm rẫy – mấy năm sau thì cô bé đi lấy chồng và tôi ít khi gặp lại – Thầy viết mấy dòng để nhớ mãi: Diệu Phụng – Nguyễn Thị Loan thân thương.

Vì những lát cuốc của con dẫy sạch vườn tâm, để Nguyên Phong (Phật Ân) có ngày hôm nay, mồ hôi của con đã đổ xuống ít nhiều trên đám đất, nay là tu viện Phật Ân.

*

  • LONG SÀNG

Am tranh của tôi được dựng lên rộng 3m, sâu 4m, tổng cộng 12m2. Trong đó kê đủ bàn Phật, giường nằm và bàn viết, cửa bằng tre, vách đất lợp lá dừa nước. Ban đầu chỉ lót lá để nằm, không đủ tiền mua giường dù tre hay gỗ tạp. Anh chị Tám Bốc thấy thế mới nhường cho tôi một cái giường nằm bằng gỗ đã cũ – như vậy đã quá sang, lúc này anh chị Tám cũng còn khó khăn thế mà cũng hy sinh nhượng bớt cái giường, tuy đã cũ nhưng cũng vô cùng quý giá. Thế mà H.T. Thích Tâm Hướng đã có dịp nằm lên và thầy đặt cho nó là “cái long sàng có nhạc tự động” vì mỗi lần trở mình là cái giường rung rinh kêu cót két như hòa nhạc. 17 năm qua, tôi vẫn giữ và rất quý cái giường ấy tuy nó đã tàn phế quá nhiều.

*

  • BỨC ẢNH PHẬT VÔ GIÁ

Nói đến bàn Phật cho nó có “phong cách” chứ thật ra là những thanh tre ghép lại. Thầy Chơn Thuần ở Vạn Hạnh (SG) tự tay vẽ cho tôi một ảnh bằng bút chì hình đức Bổn Sư bán thân 20x30cm. Tôi treo ảnh Ngài lên tấm liếp tre và hằng ngày lễ bái. Bức ảnh hiện nay vẫn còn treo tại trai đường của Nguyên Phong (Phật Ân). Khi “ủ tờ” về ghé thăm Vạn Hạnh, Chơn Thuần là người thông cảm mến tôi cũng như thầy Phước Sơn, Như Minh, Chơn Nguyên – nên đạo tình giữa anh em chúng tôi hết sức cao đẹp.

Chơn Thuần đã có kỷ niệm và đóng góp với Nguyên Phong (Phật Ân) bức tượng đầu tiên vô giá đó. Nên nhớ mãi Chơn Thuần.

*

  • ĐIỆU QUẬY

Tôi lủi thủi một mình, cuốc đất, làm vườn – Không ăn sáng (có đâu mà ăn), trưa nấu 1 lon gạo, tìm rau trong vườn nấu một tô canh, ăn một nửa, chiều làm vườn về khỏi nấu, còn một nửa thanh lý nốt – Xong, ngày nào cũng thế – Lúc này tôi rất khỏe, nông dân trong vùng kém xa, nhưng vì quá thiếu thốn nên sức khỏe xuống cấp trầm trọng.

Nhạn, em sư cô Đoan đang là đầu bếp của Vạn Hạnh yểm trợ lương thực cho tôi đầu tiên, và trong cảnh cô đơn ấy đã đưa người em ruột “Nguyên Thanh” về ở với tôi.

Phải thừa nhận Nguyên Thanh (tức Đạm), lanh lẹ, hoạt bát, làm lụng rất giỏi, có tài nấu nướng lại rất thương kính tôi, cậu ta có tâm ý muốn vượt biên. Khi tôi về Huế, ở nhà một mình, cậu ta liên hệ với bạn bè tổ chức vượt biên, sự việc bất thành, đổ bể, cậu ta chạy dài về quê lập gia đình, trồng hoa sinh sống khá sung túc và lo phụng dưỡng cha già thay các chị.

Tôi thường nói giỡn, Nguyên Thanh là “Điệu Quậy”, nhưng rất có tình, 16 năm qua vẫn nhớ và thăm hỏi các nhân vật tại Long Đức mà Thanh đã quen biết.

*

  • NHỊN ĐÓI

Hoàn cảnh tôi khai mở Nguyên Phong (Phật Ân) khá nhiêu khê. Người góp công lớn nhất là thầy Kiến Tánh, nhưng lúc này thầy cũng rất thiếu thốn, nên tôi cũng ngại nhờ vả về vấn đề vật chất. Người em ruột của tôi là ĐĐ Long có hứa sẽ xây nhà và cung cấp lương thực cho tôi đủ sống. Thiện ý này chưa thực hiện được thì nó đã lìa bỏ cõi trần – dưới cột nhà trong cốc tôi, nó chôn mấy chục cây vàng (nhờ tôi giữ) sau này em dâu tôi và mấy cháu về lần lượt đem đi hết. Tôi giữ nhưng chẳng bao giờ nhìn thấy. Có một lần trong khạp gạo còn độ 5 lon, tôi tính đủ sống trong 5 ngày, khi làm vườn vào lấy gạo nấu cơm thì… ô hô chẳng còn hột nào cả. Người ta đã “bí mật” mượn trọn cả rồi. Tôi thất thiểu qua B.L. định nhờ thầy K.T. rủi thầy đi vắng, hỏi bà Mười chùa cũng chẳng còn hột nào… về, nằm queo nhịn đói. Vỗ bụng mà cười, nghĩ chuyện đời oái oăm, nghèo rớt mồng tơi như tôi mà còn bị ăn trộm, như vậy, có lẽ còn có người đói rách hơn tôi! – Mà tôi đâu có nghèo – Vàng chôn dưới giường mấy chục cây, tại sao lại nhịn đói? Tôi nghĩ: Vàng của em mình thì mượn đỡ vài chỉ, vài cây mua gạo, có sao đâu! Nhưng thôi, lấy 1 em dâu nó nghi 10 – mất chí trượng phu. Giờ này, em trai, em dâu đều đã chết, nhưng chỉ còn mấy đứa cháu ruột. Thi, Tèo, Rớt, Út ở Việt Nam, Ly, Luyện, Hà ở Canada chúng đều biết rõ vàng của ba mẹ chúng chôn trong cốc tôi, và chúng đã về lấy, nhưng nó đâu biết là bác ruột nó nằm trên vàng của nó mà nhịn đói…

Sự đời vậy đó có ai hay!

* * *

  • THIỆN, TÂM, TUỆ, THỦY.

Thiện, Tâm, Tuệ, Thủy là bốn chú điệu có bốn kỷ niệm đáng nhớ nhất:

Thiện thật thà, ngơ ngáo, ngủ nhiều – Có lần ngủ nửa đêm mưa to nhà dột ướt khắp nơi nó vẫn ngủ. Tôi thức nó dậy lấy nón đội cho đỡ ướt. Tôi thì lo dẹp mùng mền chiếu gối, nó thì đội nón ngồi dựa cột nhà hả miệng ngáy o…o… trông thật dễ thương và tội nghiệp.

Một lần khác, không có gì làm thức ăn, hai thầy tró hái đại mấy đọt lá khoai mì và lá rau kiểng nấu canh ăn. Thật tình mà nói tôi ráng nuốt cho xong bữa, nhưng thấy Thiện ăn ngon lành lắm, tôi hỏi: “Canh rau này có ngon không?” “Dạ ngon!”.

Tội nghiệp, lúc khó khăn như vậy Thiện vẫn kham nhẫn, ở với tôi một thời gian, sau mấy năm phải cho nó về phụ giúp GĐ. Thiện vẫn làm công nhân ở đội 3.

*

Nói cho đúng, Tâm là con bà Ngọc Hải, nhà khá giả nhưng ốm yếu hay bệnh. Bà Ngọc Hải gởi ở chùa với thầy Kiến Tánh – thầy thường vắng nên tôi gần và chăm sóc nó nhiều hơn. Tôi giao cho nó mỗi chiều lùa 2 con ngỗng vào chuồng (chúng tôi nuôi ngỗng với dụng ý để lội suối cho đẹp và diệt lũ cỏ gấu). Chiều nào Tâm cũng cầm lá đu đủ đi lùa ngỗng – chỉ 2 con mà chúng khá ngoan cố, làm chú Tâm vừa lùa, vừa khóc, có khi cầu viện chị Liên (Trung Thanh) lùa giúp, nhìn Tâm, hình ảnh chú tiểu khôi ngô, trắng trẻo, mếu máo cái miệng rất dễ thương – bây giờ điệu Tâm đã là Bác sĩ học giỏi được cử đi du học ngoại quốc và sẽ là Giáo sư Bác sĩ tương lai rất gần.

*

Điệu Tuệ, điệu này thì lùn, mập và rất lanh, thông minh, gọi mẹ tôi bằng cố, gọi tôi là ông. Khi mẹ tôi qua đời rất thương nó nên muốn tôi đem theo nuôi – Theo ý mẫu thân tôi dẫn Tuệ từ quê vào. Điệu này có 3 điểm tôi nhớ rõ:

  1. Học lớp 6 ra tận Long Thành. Đường thẳng, không đi, phóng xe leo lên các đống đá coi như “phi ngựa qua đồi”.
  2. Đi học về, mặc quần xà lỏn, áo tràng, đứng cúng ngọ. Hỏi ra thì trả lời “vì áo tràng đã quá dài không ai biết mình mặc quần cụt”.
  3. Đi học xa thường ít ăn cơm nhà, kể cả ăn sáng – thì ra, chú ta bắt bạn với con ông giám đốc nông trường, nên ghé xuống nhà ông ăn sáng, trưa thì ghé sư cô Ngọc Thành hay nhà chị Tuyết (HT/HĐPT Khánh Long) để giải quyết bữa trưa.

Thấy nó lanh, thông minh nhưng tâm ý ấy khó tu nên cho về với cha mẹ – nay nó là một sinh viên học khá. Kể cũng là kỷ niệm đáng ghi.

*

Điệu Thủy, người Quảng Trị ở Ngãi Giao, thầy Minh Trí chùa An Linh đầu hàng nên gởi nó cho tôi – Ở được vài tháng thì sư huynh Huệ Tánh ở Phan Thiết dẫn theo – Điệu này có đặc điểm là trung thành, có tình, có hiếu, không gian tham, tính tình phóng khoáng, nhưng lại rất “liều mạng”, “thô bạo”, có tài “giám đốc”, “giám xúi” nên hay xúi quẩy các điệu khác – đánh lộn là nghề của chàng – Ở Phật Quang Phan Thiết mấy năm, sau đó vào chùa Niết Bàn – nay đã thọ Tỳ Kheo – nghe đâu, mỗi lần thầy Niết Bàn la đánh, chú ta liều mạng ôm chân thầy né roi, nực cười, nên hết giận.

Gửi bình luận

↑