Nhớ Ôn Từ Đàm – Phải Hiểu Ôn

NHỚ ÔN TỪ ĐÀM
Hòa thượng THÍCH THIỆN SIÊU
Ôn ơi,
Thuở nhỏ con hành điệu.
Trên đầu con còn tóc
Ôn ít nói nên nhìn ôn rất nghiêm
Ôn ít cười nhưng khi cười rất đẹp
Chẳng bao giờ ôn cười to
Chẳng mấy khi ôn nói lớn
Nên chúng con rất sợ
Kỳ, Hướng, Tuấn, Dược, Tâm
Năm điệu này đã xuống tóc
Chỉ còn con, còn vọng tưởng trần đời
còn đam mê sinh hoạt (GĐPT)
Ôn bảo quét sân
Con né tránh, vì lười
Ôn dạy tụng kinh
Con tìm cách, viện cớ
Ôn mỉm cười vì ôn biết tính con
Ôn tha thứ dạy con theo hướng khác
Ôn đã nói:
“Mày có khiếu tổ chức hành chánh
Lại có tài diễn giảng điều hành
Theo sở trường phục vụ
Bỏ sở đoản không màng”
Ôn Phổ Quang muốn dạy con nghi lễ
Thì ôn cười “Nó chẳng đam mê”
Theo chân ôn tập diễn giảng
Về Cự Lại thuyết giới Tam qui
Ôn khen “Cũng tạm được, hôm ni”
Con mừng lắm, nhớ ghi lời ôn dạy.
Và từ đó,
Bên các ôn con học
Tóc vẫn còn mà hạnh nguyện xuất gia
Ở Từ Đàm con đi đứng vô ra
Năm 63 (1963) tranh đấu
Năm 66 (1966) dấn thân
Ban Hướng dẫn (GĐPT) con phục vụ tinh cần
Quận Phú Vang (GĐPT) con hăng say hoạt động
Đến 66 (1966) bị Thiệu Kỳ đàn áp
Con “cạo đầu” lộng giả thành chơn.
Chúng con thì hăng hái
Còn ôn cẩn thận đắn đo
Ma vương muốn chia rẽ thầy trò
Ôn im lặng cảm thông và tha thứ
Tết Mậu Thân tại Ty Thuế vụ
Thầy gặp trò còn sống sót là may
Trong đau thương, cười gượng để chia tay
Sống trôi nổi, trên mọi miền đất nước
Nghe ôn bệnh, con về thăm cho được
Ôn dịu dàng bảo ở lại dùng cơm
Rồi dặn thêm:
Mấy chú nhớ điều này
Sống phải biết “tùy duyên mà bất biến”
Đâu ngờ được
Chỉ mấy tuần sau đó
Ôn rời xa
Cõi trần cấu này rồi
Con âm thầm vọng về Huế xa xôi
Khấu đầu lễ với tâm thành tha thiết
Ôn ơi ôn!
Vạn pháp vô thường, con biết
Nhưng mất ôn,
Lòng nuối tiếc đau buồn
Buồn cho Phật Pháp
Đau cho tín đồ
Tiếc cho chúng con
Nuối cho dân tộc
Vì từ đây
Ôn vắng bóng
Tiếng pháp âm còn đọng lại trong hồn
Và nay mai
Các giới đàn
Tìm đâu ra những lời vàng khai đạo
Sâu sắc, mà thực tế
Dí dỏm, mà oai nghiêm
Hùng hồn, mà từ ái
Cô đọng, mà đủ đầy
Đó là biệt tài của ôn vì ôn là học giả
Uyên thâm Phật Pháp
Những tác phẩm ôn để lại
Phật chất ngút ngàn
Những lời ôn nói ra
Lòng từ mẫn bao la
Nay ôn đã đi xa
Nơi cõi Phật “Niết Bàn vô ngã”
Con mong ôn nhìn lại
Cảnh Ta Bà uế trược đau thương
Có chúng con lặn hụp giữa vô thường
Ôn hội nhập cứu sinh linh đồ thán
Đời của ôn vầng hào quang tỏa sáng
Lời của con hữu hạn quê mùa
Giữa đời thường đầy tranh chấp hơn thua
Vòng xoáy ấy kéo chúng con vào cuộc
Nhớ lời ôn căn dặn
Vâng lời ôn con làm
Trước Thế Tôn ngài A Nan phát nguyện
Nay trước ôn con cũng noi theo
“Đời ngũ trược con xin nguyền vào trước
Việc khó làm con đâu dám từ nan
Con thành tâm nhờ oai lực ôn ban
Để vững tiến giữa muôn ngàn sóng gió.
Xin Giác linh ôn chứng giám”.
Học trò ôn
PHẢI HIỂU ÔN
Tết Mậu Thân ở Huế, khu vực Từ Đàm nằm ngay trung tâm của trận địa. Ôn thoát khỏi nơi nguy hiểm đến trú tại Ty Thuế vụ Thừa Thiên.
Chúng con: Luyện, Điệp, Tùng cũng thoát chết sau khi con và Tùng (Thư ký BHD/GĐPT/TT) vào nơi nguy hiểm để vác 1 bao con dấu của các cấp GH lên chôn dấu tại Hoàng Mai tịnh thất, chỉ đem theo 1 con dấu duy nhất của tỉnh GH Thừa Thiên tìm trao tận tay ôn tại Ty Thuế vụ, rồi ở lại đó với ôn mấy ngày, nhờ có chị Tuyết, chị Hạnh lo cơm nước qua ngày chờ tìm cách thoát hiểm. Thấy chúng con đứa nào cũng lần chuỗi chí thành niệm Phật, ôn cười bảo: “Gặp lúc nguy hiểm mấy chú mới chịu tu, còn bình thường thì chạy rong như vượn”.
Chúng con nhìn nhau, cười, nhận khuyết điểm của mình “Ôn dạy hay la, quả đúng như thế”, nên lòng dặn lòng “đừng đợi trời đánh mới chạy vào chùa”, e trễ mất.
KỶ NIỆM RIÊNG VỚI ÔN TỪ ĐÀM
Con nhớ vài việc nho nhỏ giữa thầy trò khi con ở Từ Đàm làm điệu có tóc, con ghi lại để nhớ ôn.
- Tiền của ai?
Quét màng nhện trên chánh điện, cái chổi cắc cớ móc trên kèo rớt xuống một cọc tiền cuốn tròn, con lượm ra trình ôn. Ôn cười: “Tiền của ai kệ họ, để lại chỗ cũ cho người ta, trình thầy biết là tốt rồi, làm việc đi, đừng bận tâm, không tham là giỏi lắm”. Được khen, mở cờ trong bụng. Để tiền lại chỗ cũ, của ai không cần biết!!!
- Họ móc nối
Phật tử ở Đồng Di lên chùa, có một thanh niên xin ở lại vài hôm để chữa bệnh, tối tối ngủ tại giảng đường vì trời nóng nực. Lân la ca kệ chuyện trò với các điệu trong đó có tôi. Được hai hôm anh ta muốn móc nối để dùng văn phòng BHD/GĐPT/TT và nhà bếp Từ Đàm để làm cơ sở hoạt động cho Mặt trận giải phóng. Tôi trình sự việc lên ôn. Trong nét trầm ngâm suy nghĩ, ôn nói: “Rắc rối, không khéo giải quyết thì rắc rối, vậy Điệp định giải quyết thế nào?”. Tôi hăng hái nói ngay: “Theo con, chúng ta đã mang tiếng thân Cọng, mà Phật giáo chẳng thân chẳng sơ với các thế lực chính trị, nên từ chối thẳng thừng và đuổi anh ta đi, nếu anh ta không chịu thì…”. Ôn nhíu mày: “Từ chối là lẽ đương nhiên, nhưng từ chối cách nào, cần khéo léo và tế nhị chứ thẳng thừng sẽ gây bất mãn và oán đối”. Nhận ra ý ôn, tôi cũng hăng hái: “Vậy để con giải quyết với họ, thầy yên tâm”. Tối đến tôi gặp riêng anh ta, giải thích và từ chối, anh ta cũng tỏ ra hiểu biết và rút lui trong êm đẹp.
- Cô đơn
Cuối năm 1981 hay đầu năm 1982 gì đó, tôi ra khỏi trại cải tạo, tìm thăm ôn. Đến Phật học viện Hải Đức Nha Trang, lúc này ôn ẩn cư. Thui thủi một mình, thị giả có hay không chẳng biết, ôn đang loay hoay chăm sóc mấy cây kiểng. Thấy tôi, ôn vui vẻ ngừng tay gọi vào phòng khách. Ôn con tâm sự, ôn hỏi thăm sức khỏe, cuộc sống ở trong trại, các thầy cùng chung cảnh ngộ sống ra sao? Còn ăn chay hay ngã mặn, họ đối xử với tu sĩ thế nào? Tôi sự thật trình bày, ôn chăm chú nghe, thỉnh thoảng thở dài thông cảm hoặc gật đầu tán thán những gì tốt đẹp mà chúng tôi đã thực hiện trong thời gian ở tù.
Trước khi chia tay, ôn nghiêm nghị hỏi: “Chừ MT có oán trách họ không? Và định sống ra răng?”.
Tôi thành thật trả lời: “Bạch thầy, lúc đầu con oán trách họ lắm, vì mình không làm gì nên tội mà phải ở tù hơn năm năm. Nhưng bây giờ thì con không hề oán trách họ nữa, vì con tin vào luật nhân quả, kiếp trước con bỏ tù họ kiếp ni con trả nợ, còn sống ra răng thì… đến đâu hay đó, con chưa định gì cả”.
Ôn nhỏ nhẹ “Ráng tu, mọi chướng nạn sẽ qua đi, đừng lo gì cả”, tôi dạ dạ rồi ra về.
KÍNH NHỚ
Ôn TRÚC LÂM
Đọc thư thầy Tín Nghĩa muốn in tập kỷ yếu về ôn Trúc Lâm, tôi thật sự xúc động, bùi ngùi nhớ ôn. Nhiều kỷ niệm bừng dậy trong lòng, trên 10 năm, thời gian không ngắn, mà cũng không dài, vắng ôn trên cõi đời, nhưng với tôi thì khác, vì từ Tết Mậu Thân (1968) tôi đã xa Huế, mà cũng xa ôn, tính đủ thì cũng đã gần 40 năm, lúc này (2007) tóc tôi đã bạc nhiều với cái tuổi cổ lai hi. Lúc xa ôn tôi còn là một thanh niên hăng say sinh hoạt trong GĐPT, trốn chui trốn nhủi, lẫn tránh cả hai phía Quốc Cọng vì bên nào cũng muốn bắt cho được mấy tên chủ trương Tuần báo “THANH QUANG”, cơ quan tranh đấu nghị luận của GĐPT Thừa Thiên cho sự tồn vong của Đạo pháp mà cuộc vận động của Phật giáo cho Tự do – Hòa bình – Độc lập của dân tộc chưa hoàn thành.
Có lần bốn (4) anh em chúng tôi trốn ở Hoàng Mai tịnh thất được sư bà Thể Quán đặt cho 5 sư cô đực rựa 5 cái tên thật hay Diệu Tâm (Khắc Từ) đang làm sư cô Diệu Thiện ở Diệu Đức, còn 4 đứa Diệu Như (Điệp), Diệu Minh (Giác), Diệu Cảnh (Kỳ), Diệu Đài (Mai), Tâm Như Minh Cảnh Đài là một trong 4 câu kệ của Ngài Thần Tú trình sở đắc của mình lên Ngũ Tổ. Ôn đã cười vui nhắn gởi với sư bà Diệu Không: “Nói với mấy đứa dù thất bại hay thành công cũng phải giữ tâm như đài gương sáng”.
Trong một lần khác, vì ham chơi đôminô mấy anh em tôi vô ý ra góc vườn đứng mà tè. “Sư cô gì lạ rứa? Mấy chị ni ngộ chưa tề?”, sư bà Thể Quán hoảng hốt la to, chúng tôi sực nhớ mình là “sư cô giả” nên ngồi xuống, nhưng không còn kịp nữa, vì thế mà bị lộ. Mờ tối, một đại đội cảnh sát dã chiến bao vây cả khu vực quanh chùa Trúc Lâm, Hồng Ân và Hoàng Mai tịnh thất. Ôn đã tìm cách báo động để anh em chúng tôi tìm lối thoát thân, dù với tờ báo này tôi chỉ là kẻ cầm đèn đỏ chạy sau các anh Như Tâm, Nguyên Ngộ, Tâm Bản, Tâm Kiểm. Vậy mà cũng trở thành một nhân vật cả hai bên tả hữu đều quan tâm, thật oái ăm cho cái nghiệp dĩ làm người của tôi. Chính trong lúc này mới thấy được tình cảm của ôn Trúc Lâm dành cho anh em chúng tôi.
Tối hôm ấy do sự thành khẩn cầu nguyện của đại chúng hai chùa Hồng Ân và Hoàng Mai tịnh thất cũng như chúng tôi, đức Quán Thế Âm đã thị hiện độ thoát như trong kinh Pháp Hoa (phẩm Phổ Môn) mà đức Phật đã dạy sự linh ứng này tôi đã viết một bài trong tập san Phật Ân. Đặc biệt trong Tết Mậu Thân (1968) ôn đã bao bọc che chở cả nhóm chúng tôi tá túc tại chùa Trúc Lâm khi chiến sự đang sát phạt nhau dữ dội mà chùa Trúc Lâm đang nằm trong địa bàn kiểm soát của bộ đội MTGP, họ đã biết trong nhóm chúng tôi có Thiếu úy Luyện an ninh quân đội, Trung úy Hoài công binh, dường như có Thiếu tá Nhơn đều là quân nhân Phật tử tham gia phong trào tranh đấu của Phật giáo, nhưng họ chưa bắt vội vì còn bận đánh nhau và chờ lệnh. Họ chỉ ra lịnh “nội bất xuất, ngoại bất nhập”, nghĩa là giam lỏng chúng tôi trong chùa, lại một lần nữa ôn không ngại nguy hiểm vạch đường chỉ lối cho chúng tôi thoát thân, đứa thì xin xuống hồ hái rau rồi dọt, đứa thì xin đi rút rơm về nấu cơm rồi chuồn, đứa thì xin qua Hồng Ân kiếm thức ăn rồi cút, mà điểm hẹn là chùa Kim Tiên, đến tối thiếu mặt anh nào là xem như đã về hầu Phật hoặc được ăn cơm vắt. Lạy Phật, người trước kẻ sau, chúng tôi đã đủ mặt tại chùa Kim Tiên đúng hẹn, không sứt mẻ đứa nào. Không hiểu sau đó ôn trả lời với họ ra sao khi chúng tôi vắng mặt, đi mà không trở lại như đã xin, nhưng tôi tin với sự khôn khéo và lòng can đảm của ôn, thì ngoài bạo lực, mấy chàng này thuộc hàng hậu bối, sánh sao nổi với bậc cao thủ tiền bối dày dạn kinh nghiệm như ôn.
Trước khi rời khỏi Huế, bôn tẩu vào Nam, chúng tôi phải né tránh cả hai phe Quốc Cọng, bên quốc gia kết tội chúng tôi là Việt Cọng nằm vùng, gặp đâu xử đó. Bên giải phóng thì tìm bắt, vì chúng tôi không cùng chung giới tuyến, thuộc thành phần thứ 3 nguy hiểm, dễ bị địch kéo lôi, đúng là hoàn cảnh lưỡng đầu thọ địch. Thấy tình hình ở Huế khó có đất dung thân, mỗi người tự tìm cho mình một con đường sống, dù vẫn liên lạc nối kết với nhau. Riêng tôi, phải thay tên đổi họ, tên Diệu Như không còn thích hợp vì là đực rựa, tên Lệ Dũng hay Đoàn Đình Điệp thì ai cũng biết xưa nay, lúc này tôi chưa có pháp tự. Nhớ buổi ban đầu đến với đoàn Đồng ấu Phật giáo rồi GĐ Phật hóa phổ ở chùa An Phước, sau đó có tên là GĐPT Minh Tâm, tôi lấy cái tên này vì thấy cũng hay hay, lại có kỷ niệm lúc ấu thơ, ý này có Tâm Bản và Tâm Kiểm tham gia, nhưng sợ bổn sư rầy vì tự tiện đặt tên, tôi đem việc này trình ôn Trúc Lâm. Ôn cười đôn hậu: “Yên tâm, chữ Minh Tâm hay lắm, hơn nữa chỉ là pháp hiệu thôi thì có gì mà ngại, nếu ông già râu có rầy thì cứ trình là ôn Mật Hiển đặt cho pháp hiệu và xin pháp tự sau”. Thế là tôi yên tâm với pháp hiệu của mình. Kể từ đó, tôi pháp hiệu là MT cho đến bây giờ và gần 10 năm sau sư phụ tôi mới cho pháp tự, do đã quen, nên chữ MT trở thành tên thường dùng, nên khi nào ai gọi tên MT, giới thiệu MT, ký tên MT, tôi đều nhớ ôn Mật Hiển.
Đến năm 1989, một kỷ niệm đặc biệt nữa về ôn: Trong một dịp về Huế lên Trúc Lâm thăm ôn. Sau nửa giờ thầy trò ôn con thăm hỏi, chuyện hoằng pháp, chuyện chùa chiền, việc tu học, Phật sự, hàn huyên xong, tự nhiên ôn nhìn thẳng vào mặt tôi đột ngột hỏi: “Khi mô MT vô Sàigòn?”. “Dạ, bạch ôn một, hai hôm nữa”, tôi trả lời. Ôn nghiêm nét mặt như ra lịnh: “Mai vào ngay đi, đừng ở nán vài hôm nữa, không tốt đâu, rắc rối đó, niệm Phật đi”.
Hơi ngỡ ngàng lo ngại, tôi dạ rồi ra về, cũng may có thầy Tâm Hòa và người cháu cùng vào theo trong chuyến này, lời ôn dặn không phải đùa, nhưng tôi cứ ngỡ là rắc rối như từ lâu đã xảy ra với tôi khi từng bước đi được “người ta” theo sát, vì cái tính ngang bướng của mình, song chỉ là một thành phần trong tranh đấu, vâng lời ôn, tôi sắp xếp vào Nam sớm hơn dự định một ngày. Trên lộ trình, 3 người đồng hành, những điều xảy ra tôi giựt mình lo lắng, về đến chùa tôi vẫn chưa yên tâm, thì ra, ôn đã thấy tai họa đến với tôi. Khi lên xe từ Huế vào Đà Nẵng đến Phú Lộc, tự nhiên xe phát hỏa bốc cháy, chúng tôi ngồi trước cabin, bên cạnh tài xế, nhanh chân nhảy ra ngoài thoát hiểm, chỉ có anh lơ xe chữa lửa không khéo, bị phỏng một cánh tay, hành khách vô sự.
Chúng tôi đón xe khác vào Đà Nẵng, tối đến thăm thầy Từ Mẫn bệnh nặng, thị giả ngăn cản khó khăn, mà lại để mấy bà Phật tử vào thăm tự do, chúng tôi đợi gần cả giờ vẫn chưa thăm được, gai bồ đề lại khởi lên, đại náo Phổ Đà một trận, kể cũng phiền, thầy Tâm Hòa có dịp chọc quê, “thua xì lác, gỡ bài cào”. Sáng hôm sau, đón xe từ Đà Nẵng vào Quy Nhơn, xe mới đến Quảng Ngãi thì tài xế lạc tay lái, xe trúc xuống lề đường, may phước chẳng ai hề hấn gì, lóp ngóp bò ra khỏi xe, đón xe khác, lần này thầy Tâm Hòa không còn chọc quê tôi nữa mà xoay qua đứa cháu: “Vía của mày nặng quá, chuyến xe nào cũng tai nạn, may mà chưa chết”. Tôi nhớ lời ôn nên chỉ âm thầm niệm Phật. Tối đó, tôi đến chùa Long Khánh (Quy Nhơn) lễ Phật và vọng hướng về Tổ đình Trúc Lâm lễ ôn đã qua 2 tai nạn mà thoát được rất hi hữu.
Hôm sau, ra bến xe Quy Nhơn, chúng tôi chọn chiếc xe mới nhất, đẹp nhất dù giá đắt để về Sài Gòn, trên xe, khách rất ít, tài xế đã lớn tuổi chạy khá cẩn thận, tôi thấy vẫn chưa yên tâm, vừa nói chuyện với thầy Tâm Hòa nhưng trong lòng vẫn niệm Phật. Đến Tuy Hòa, trời đổ mưa, xe vẫn chạy bình thường, xe qua cầu Bàn Thạch mưa lớn hơn, gần đèo Cả tự nhiên xe tăng tốc, đường trơn, xe phóng như bay, tài xế lớ quớ không làm chủ được tốc độ, không dám thắng chỉ chạy lạn qua tả, lạn qua hữu, nếu gặp xe ngược chiều chắc là tan xác cả đám, trên xe nhốn nháo, tôi và thầy Tâm Hòa đủ thời gian bảo nhau, “lần này thì chết chắc rồi, niệm Phật đi mà chết”, lúc này chiếc xe nó bay chứ không phải chạy, chúng tôi nhắm mắt chờ chết. Rầm, chiếc xe đứng lại vì nó cỡi trên một con lươn cao mà ngày trước người Mỹ làm để đề phòng xe lướt xuống sông. Khi định thần nhìn kỹ thì 1/3 chiếc xe đã nằm ngoài bờ sông còn 2/3 cỡi lên con lươn ấy. Chúng tôi không thể bước xuống được, vì bước xuống tức là nhảy xuống sông, nên phải leo qua phía tài xế mới ra ngoài được. Dù trời đang mưa lạnh mà ông tài xế cũng toát mồ hôi, mặt thất thần, hành khách ra khỏi xe an toàn không một tì vết. Có lẽ lúc này mặt mày tôi căng thẳng lắm, nhưng miệng không rời câu niệm Phật, cả xe thoát chết trong đường tơ kẻ tóc.
Thâm tâm tôi nghĩ “sự bất quá tam” ba lần thoát chết trên một chuyến đi, tôi âm thầm vọng về cố đô Huế, về Tổ đình Trúc Lâm bái tạ ôn. Tưởng thế là yên, khi chia tay với thầy Tâm Hòa ở ngã ba Vũng Tàu thầy Tâm Hòa còn vói theo: “Đến đây là an toàn rồi đó, chúc khoẻ”. Tôi cười nhưng trong lòng vẫn còn e ngại, lên ngồi trên xe lam tôi vẫn không ngớt niệm Phật và thầm nhớ thương ôn. Tâm phục khẩu phục. Xuống xe ở ngã ba cầu Tam An, chỉ còn hơn một cây số là đến chùa, đoạn đường ngắn giữa rừng cao su, tôi đi bộ, mỗi bước chân là một câu niệm Phật như đi kinh hành, đến trước văn phòng nhà máy cao su thì chú tiểu Thiện Nhơn đạp xe ra đón, tôi chẳng chịu lên xe, bảo nó “Thoát hiểm ba lần rồi, còn mấy trăm thước để thầy đi bộ”. Thiện Nhơn lại tha thiết khẩn khoản: “Nào là xe còn mới, đạp nhẹ lắm, nào là trời nóng đi bộ mỏi chân, nào là con đạp xe rất vững”. Tôi lại xiêu lòng, leo lên xe ngồi sau yên xe đạp và dặn: “Cẩn thận nghe con”, xe chạy chưa quá 20m đến trước trạm y tế nông trường. Không rõ lý do tự nhiên xe nhào xuống đường đất đỏ, đá sỏi ngổn ngang, tôi chống tay đứng dậy không được, cái chân kẹt vào trong căm xe, nhìn xuống đường là một vũng máu, sao chẳng thấy đau đớn gì! Mấy vị y tá trong trạm xá chạy ra đỡ tôi dậy, bây giờ mới biết cái chân tôi tét một đường dài hơn 1 tấc, một mảng thịt da lật ngược. Y tá dắt tôi vào trạm làm thuốc, khâu trên 10 mũi, lúc này mới thấy đau, chữa trị gần 2 tháng mới lành.
Chuyện lạ có thật trong một chuyến đi. Giờ này tôi viết lại, vẫn thắc mắc về sự cảnh báo của ôn, có cái gì huyền bí, cái gì đó khó hiểu. Nhưng thôi, vâng lời ôn con đã vào trước 1 ngày mà liên tiếp tai nạn, nếu không nghe lời ôn có lẽ… biết sao mà nói… Lạy Giác linh ôn, con với ôn có những kỷ niệm đặc biệt đó, tuy rất nhỏ, nhưng với con nó lớn vô cùng, viết lại vài giòng kỷ niệm về ôn, nhớ thương ôn với vô vàn kính mến.
Lạy ôn !