Trường Sa Ơi – Phần 3

Tối nay (04/05/2013), sau một ngày sinh hoạt đầu tiên trên đảo của đoàn, vui vẻ nhưng có người trong đoàn thấm mệt do chiều nay tàu lắc lư hơi mạnh vì sóng biển nên chưa tối đã có người về phòng trùm mền. Tôi đang viết bài thì nghe tiếng đàn nhị văng vẳng ở tầng trên, tiếng đàn có ma lực kéo tôi tìm đến, giữa sóng nước mênh mông, tàu còn neo lại đến 9 giờ tối mới nhổ neo theo hải trình đã tính toán. Trong ánh sáng mờ ảo của các cửa sổ trên tàu hắt ra, gần 20 người ngồi quanh ăn bánh, uống trà và 3 nghệ sĩ Huế (Ban lễ nhạc Cung đình) đang diễn các điệu nhạc của quê hương núi Ngự. Mọi người tán thưởng với những tràng vỗ tay hòa cùng sóng biển vỗ mạn tàu, khung cảnh thật ấm áp, lãng mạn và hồn nhiên, tô thêm cho cuộc hành trình nhiều kỷ niệm đẹp.
TIẾP TỤC HÀNH TRÌNH
Tối nay (04/05/2013) tôi ngủ một giấc thật sâu khi tàu đã nhổ neo lên đường lúc 21 giờ. Đến 5 giờ sáng ngày 05/05/2013, khi nghe máy phát thanh “Đoàn tàu báo thức, báo thức toàn đoàn”, tôi ngồi dậy người rất tỉnh táo để nghe thông báo chương trình sinh hoạt trong ngày 05/05/2013.
Ăn sáng với một dĩa cơm chiên thập cẩm. Thường ngày ở chùa, tôi ít ăn cơm chiên, thế mà sáng nay một dĩa, tôi vét chẳng còn một hột, có lẽ vừa khỏe, vừa vui, hay nhờ sóng biển lắc lư con tàu và bao tử tôi cũng lắc theo nên biết đói.
Cũng như ở đảo Song Tử Tây, đảo Sơn Ca nhỏ hơn nhưng cũng phải dùng ca nô để chuyển người và hàng vào đảo.
Tôi lại được ngồi chung chuyến thứ 3 với Đại tá Trưởng đoàn công tác số 9 này. Hôm nay thú vị hơn hôm qua là ngồi ca nô không có mui nên được sóng biển chiếu cố ướt cả áo quần, trừ những mảng áo có che chắn bởi áo phao và nhìn rõ từng con sóng tìm mình mà đe dọa.
Nghi thức đón đoàn cũng theo phong cách quân đội nhưng đơn giản hơn là không có lễ chào cờ và duyệt binh.
Tại Hội trường của đảo Sơn Ca, đoàn được nghe báo cáo sự vượt khó gian nan của đơn vị giữ đảo đã anh dũng lẫn khôn ngoan đẩy lui sự khiêu khích của Trung Quốc 7 lần, của Đài Loan 3 lần mới giữ yên được đảo. Đoàn tặng quà xong, dưới sự hướng dẫn của Đại tá Phó Tham mưu trưởng Hải quân, cùng đại diện 7 tôn giáo, Ban Tôn giáo Chính phủ cùng ra tại bãi cát đã đặt đá làm chùa Sơn Ca, mọi người đứng quanh một bát nhang nghi ngút khói thành kính cầu nguyện cho ngôi chùa sớm thành tựu. Chư Tăng cử một bài Tán Xấp và tụng Đại Bi Thập Chú vang lên uy dũng của âm thanh. Lễ cầu nguyện chỉ diễn ra 15 phút nhưng hết sức linh thiêng cảm động vì tất cả mọi người quá thành tâm.
Phái đoàn trở về sân sinh hoạt, nơi đây đoàn văn công và anh em chiến sĩ Hải quân đang giao lưu văn nghệ, đoàn đã cử hành một nghi thức trồng cây kỷ niệm. “Cây Bồ Đề” – vị trưởng đảo cho biết chăm sóc cho tốt, sau này làm chùa xong sẽ dời ra chùa cho thích hợp.
Sau gần 2 giờ ca hát, nhảy múa, vui chơi, đại diện các tôn giáo cũng góp vui để chúc tụng nhau, ai cũng mong ngày tái ngộ.
Đoàn lên ca nô trở về tàu ăn trưa cho đúng giờ nhổ neo qua đảo khác.
Đoàn không ghé đảo Nam Yết vì ngại đến đảo “Sinh Tồn” tối sẽ không thiết đàn kịp cho buổi lễ quan trọng ngày mai, nên, tàu đi qua mà không ghé kịp (theo lời thầy N.Q.), nỗi buồn xâm chiếm nơi tôi.
Xa xa là đảo Ba Bình đang bị Đài Loan chiếm giữ. Theo tài liệu, đảo Ba Bình là đảo lớn nhất của quần đảo Trường Sa có thể thiết lập phi trường lớn vì có độ dài mà làm phi đạo.
Tự nhiên, tôi chùng xuống một nỗi buồn kéo đến, đảo ta đó, đất ta đó mà không được ghé vào. Chúng ỷ mạnh hiếp yếu, đi ăn cướp biển đảo của ta mà ta chưa đủ sức đuổi chúng đi mà lấy lại, cũng như hôm qua, đứng bên đảo Song Tử Tây, nhìn thấy rõ đảo Song Tử Đông đang bị Philippine chiếm đóng. Có người biết chuyện kể lại rằng: Các chiến sĩ Việt Nam Cọng Hòa trước năm 1975 cũng đã có những trận chiến với ngoại xâm để giữ đảo. Đảo Song Tử Tây cũng bị Philippine chiếm đóng nhưng sau đó quân đội VNCH đã dùng mưu lấy lại mà không tốn một viên đạn nào, rồi xây dựng cột mốc biên giới đến khi MTDT đến tiếp thu vẫn bảo vệ giữ gìn cột mốc ấy. Câu chuyện đó làm tôi phấn kích vô cùng, vậy thì, quân đội VNCH, quân đội MTGP ai cũng giữ đảo, cũng hy sinh vì Tổ quốc Việt Nam. Tôi nhìn xuống biển, nước sâu quá, màu xanh biển đã trở thành màu xanh tím, ở dưới đó, xương thịt của những người lính hai bên có lẽ đang quyện vào nhau, linh hồn họ đang xiết chặt vào nhau để ôm nhau mà ca câu: “Chúng ta là người Việt Nam đã hy sinh cho dân tộc, cho biển đảo quê hương”. Tôi âm thầm niệm chú vãng sanh và cũng thầm cám ơn và thương nhớ các anh tất cả.
Hôm qua, tôi không đi được qua đảo ĐÁ NAM, một đảo chìm chỉ nhô lên một tảng đá, thầy Tâm Vinh đã đến đó về kể lại cho tôi nghe, tiếc hùi hụi, may sao thầy Tâm Vinh đã cảm xúc làm một bài thơ đến đảo Đá Nam xúc động đọc lại.
Tôi chép vào đây để kỷ niệm có đến, có thấy nhưng chưa đặt chân vào, để gọi là an ủi.
Bài thơ thầy Tâm Vinh viết rằng:
Cảm tác khi đến đảo ĐÁ NAM
Đặt chân lên đảo Đá Nam
Cảm xúc nước mắt muốn dâng trào
Một hòn đá nhỏ trơ trọi đứng
Dưới chân đùa giỡn sóng lao xao.
*
* *
Các anh chiến sĩ đứng hiên ngang
Đưa tay lên trán cất tiếng chào
Bàn chân tôi bước đang run rẩy
Bởi niềm xúc cảm đã dâng cao.
*
* *
Các anh sinh hoạt thật đơn sơ
Vườn rau nhỏ bé nép bên bờ
Có vài chú vịt xinh xinh lạ
Và đôi chú chó chạy vu vơ.
*
* *
Tôi nhìn cảnh vật lòng ngẩn ngơ
Biển mãi dài xanh không thấy bờ
Nơi đây hòn đá kiêu hùng đứng
Tung bay cờ đỏ mãi phất phơ.
*
* *
Chốc lát nữa thôi rời nơi đây
Không biết bao lâu mới có ngày
Có còn trở lại nơi biển cả
Nhìn hòn đảo đẹp lá cờ bay.
Thích Tâm Vinh
Tôi hỏi thêm và tìm hiểu ở các vị sĩ quan được biết đây là một trong nhiều đảo chìm trong quần đảo Trường Sa, khi thủy triều hạ thì một bãi san hô lớn sẽ hiện lên, ở giữa là một mỏm đá, Bộ Tư lệnh Hải quân cho xây một cái nhà lầu ba tầng trên mỏm đá và cử một trung đội trấn giữ, ở đây quanh năm nắng gió, mênh mông biển trời – và phải ngày đêm cảnh giác với giặc ngoại xâm từ bốn phía.
Tôi xúc động thương quá các anh chiến sĩ ở đây rồi liên tưởng một số thanh niên ở đất liền, xe cộ, chạy nhảy, hút xách, ăn nhậu đua chen, giành giựt đâm chém nhau, phây phây sống trác táng như loại ký sinh trùng làm nát tan xã hội, gieo đau khổ cho gia đình, tôi ước: “Số thanh niên vô tích sự đó phải cho đến đây để nhìn rõ sự hy sinh cao quý của những người lính cùng trang lứa siêu hiến này vì Tổ quốc”.
Tôi lại nghĩ ngợi lung tung, liên tưởng đến một số người ở đất liền ăn no bò cỡi, sướng quá hóa điên, rủ nhau đỏ đen bạc tỷ, hè nhau mà thi chân dài chân ngắn, mặt rổ mặt mo, váy vàng váy đỏ, uốn éo như thanh xà bạch xà, rồi cả bọn cười hô hố, nham nhở, la hét như quỷ sứ ma vương, họ có bao giờ nghĩ tới Tổ quốc đang lâm nguy, biển đảo đang bị đe dọa, chiến sĩ đang từng giờ từng phút đối mặt với kẻ thù, và sẽ trở thành liệt sĩ bất cứ lúc nào, họ có chia sẻ được một hạt muối, một cọng rau, có đóng góp được hạt mè hạt đậu, hay cứ nhắm mắt mà ăn mà hút, mà chận trước chận sau, bia phi rượu thùng, nhai luôn cả sắt cả thép, nuốt luôn cả đá cả đất. Càng nghĩ càng buồn, càng thương càng giận. Mà thôi, việc đời là thế, buồn giận mà chi khi đã xem họ là ma là quỷ.
ĐẢO SINH TỒN
Ngày 06/05/2013, tàu đến đảo Sinh Tồn gần 4 giờ chiều, vì trên đảo nước sinh hoạt khan hiếm nên đa số đoàn viên phải ở lại trên tàu, chỉ những thành phần có công tác thì xuống ca nô vào đảo, cùng với mấy chục thùng hàng.
Sinh Tồn là một đảo nhỏ hình hạt xoài, cũng có 7 hộ dân như ở đảo Song Tử Tây, cũng có một ngôi chùa do thầy Minh Huy trú trì. Gặp tôi, quen thân, thầy vui mừng ân cần đón tiếp. Các nhân viên thiết đàn theo thầy Giác Nghĩa từ đất liền ra bắt tay vào việc, kể cả các vị Kinh sư, mấy chục thùng hàng được mở ra và chỉ trong vòng 3 tiếng đồng hồ, đàn tràng đã thiết lập xong rất trang nghiêm, hoành tráng. Tôi phải thán phục ban điều hành quá chu đáo trong khâu chuẩn bị, từ lẻ gỗ nhỏ, một cái đinh, một cọng kẽm, một cuốn băng keo, hoa quả, tượng ảnh, khăn màn, nhang trầm, lễ phẩm được mua sắm đầy đủ, xếp gọn trong mười mấy thùng – Đàn ngũ phương đều có đủ Pháp khí, lễ phẩm mà một Đại Trai đàn ở đất liền có dư phương tiện cũng chẳng hơn. Mấy bó cây ván nay đã thành 12 cái bàn cao để thiết lập đàn.
Một nhà khách 2 tầng 12 phòng ở do Công ty Cao su Việt Nam hiến tặng, chúng tôi được bố trí ở nhà khách này. Điều cảm động là vị Đảo Trưởng mà tôi nghe được đã ra lệnh cho nhân viên: “Các ôn, các thầy vì anh em chúng ta, vì bạn của chúng ta đã chết, các ngài không ngại khó khăn sức khỏe và vượt cả gần ngàn kilomet ra đây, dù thiếu điện nước, nhưng ở phòng quý thầy phải cung cấp đầy đủ suốt đêm”. Tuy vậy, ai cũng ý thức, thông cảm nên việc sử dụng điện nước chúng tôi cũng tiết kiệm tối đa.
Lễ thượng phan sơn thủy được cử hành lúc 21 giờ trong lúc các em nhỏ trên đảo tập ca múa để biểu diễn hôm sau. Gió thì nhiều nhưng phòng nào khuất gió đều nóng như lò bát quái, lại thêm bị muỗi oanh tạc nên giấc ngủ rất khó khăn.
Khác với hiệu lệnh báo thức trên tàu là “Đoàn tàu báo thức, báo thức toàn đoàn”, ở đây thì dùng kèn lệnh của quân đội. Đúng 5 giờ sáng, ba hồi kèn báo thức vang lên, mọi người thức dậy tập thể dục. Trời bình minh trên đảo rất đẹp và khí hậu quá trong lành, chúng tôi rủ nhau đi dọc bờ biển quanh đảo, từ xa thấy hai anh bộ đội lấy tay đào cát rồi cầm lên một tấm thảm màu trắng như da cừu. Đến gần, thì ra các anh đang đào giá. Một cách đổ giá kiểu của bộ đội, họ đào đất bỏ một tấm bao bố thưa lỗ, rãi đậu lên, lấp cát lại, tưới nước, sức nóng của mặt trời tạo độ ẩm nhanh làm giá mau ra mầm, chỉ hai ngày hai đêm là có giá tự nhiên để dùng, họ kéo bao lên, mặt trên là giá, dưới bao là rễ giá, họ chỉ cần lấy dao phạt rễ giá dưới bao là những cây giá tự động rời khỏi cái bao bố và sẵn sàng rửa sạch để dùng. Có điều muốn ăn giá trắng thì phải phạt rễ, đem vào ngay đừng để giá thấy mặt trời, mầm giá sẽ chuyển màu xanh, ăn không tốt mà giảm độ dinh dưỡng.
Đi quanh đảo thấy toàn là giao thông hào và dinh thự phòng thủ được thiết kế chằng chịt như màng nhện, một chiếc xe tăng rất lớn được bảo trì và ngụy trang kỹ lưỡng, anh em binh sĩ tuy sinh hoạt vui vẻ bình thường nhưng tinh thần cảnh giác để ứng chiến luôn luôn được đề cao.
Hồi hôm, lúc hoàng hôn phủ xuống trên đảo thì máy phát thanh đã thông báo cấm khách và dân tắm hay xuống biển không ra khỏi đê phòng thủ. Thế mà có một ca sĩ không nghe, ham biển, mê tắm, nên bị bắt và có thể bị mời ra khỏi đảo vì vi phạm luật đảo.
KHAI ĐÀN NGÀY 06/05/2013
Lễ hưng tác thượng phan, lễ nghinh phan sơn thủy được cử hành trang nghiêm và lễ dâng quà xuống biển rất cảm động, các vị cán bộ cao cấp niệm hương rất chí thành, quỳ lạy chí tình chí thiết với sự tham dự của quân dân trên đảo.
Lễ cung an chúc sự, lễ thỉnh sư, niệm hương bạch Phật, khai đàn thực hiện đúng tinh thần và nghi lễ Phật giáo, một hội đồng chứng minh 8 vị đủ các Tông phái càng tạo cho cuộc lễ thêm trang trọng linh thiêng.
Sau đó, suốt 3 giờ, thầy Giác Nghĩa chủ sám cùng với ban Kinh Sư cử hành lễ trì phổ am, khai kinh, thỉnh Tiêu diện đại sĩ, cúng Ngọ, lễ đề phan vị, lễ Tiến linh được cử hành đúng chương trình đã định.
Chùa Sinh Tồn cũng mới đại trùng tu theo phong cách Bắc bộ, cũng gỗ lim, cũng ngói mũi hài, cũng thờ tượng ngọc thạch như ở Song Tử Tây nhưng khuôn viên và diện tích chùa nhỏ hơn. Chùa chưa có nhà Tăng nên thầy Trú trì còn ở nhà Khách của đảo.
Trước khi vào chùa phải qua một cái cổng nhỏ, cổng xây gạch có 2 câu đối chữ Việt, mặt trước câu:
Chánh đạo hành tự do
Không luận người trí ngu quý tiện.
Tín ngưỡng ở nhân gian
Chớ bàn khách vinh nhục phú bần.
Mặt sau:
Đến lễ Phật một lòng hướng thiện
Cầu Tổ quốc mãi mãi trường tồn.
Bốn trụ trước tiền đường, hai trụ giữa có câu đối:
Sinh tồn trường cửu vĩnh viễn
nguyện cho đất nước thái bình.
Chùa đảo nhiệm mầu phổ độ
cầu được nhân dân an lạc.
Hai trụ tả hữu, có câu đối:
Niệm từ bi dấy khởi
nhiều đời nghiệp chướng tự tiêu tan.
Tâm trí tuệ mở bày
vạn kiếp hôn mê đều dứt sạch.
Vào Chánh điện có hai câu đối, câu trước:
Chùa Phật Trường Sa nay còn tỏ
Uy thần biển đảo cổ vẫn truyền.
Câu sau:
Rồng nghe kinh mà thành Phật.
Cá đọc kệ được thành Tiên.
Thầy trú trì mới ra nhậm chức 6 tháng và có hoa tay nên trong chùa khắp nơi đều có thư pháp viết trên đá, trên tường.
Đúng 3 giờ chiều, hành đàn lễ giải oan bạt độ, anh em Hải quân tụ tập dự lễ khá đông, tôi thuyết linh ngắn gọn trong 30 phút với tất cả thành tâm, giữ chánh niệm, thương cảm 64 chiến sĩ đã hy sinh trong trận đụng độ với tàu chiến Trung Quốc năm 1988 và vô số nạn nhân của tai trời, ách nước, họa người đã bỏ mình trên biển đảo.