Trường Sa Ơi – Phần 4

DANH SÁCH 64 LIỆT SĨ HY SINH
TẠI ĐẢO GẠC MA DO HẢI QUÂN TRUNG QUỐC SÁT HẠI NGÀY 14/03/1988
| STT | HỌ VÀ TÊN | NĂM SINH | QUÊ QUÁN |
| 01 | Lê Văn Sanh | 1967 | Hải Châu – Đà Nẵng |
| 02 | Lê Văn Thể | 1967 | Sơn Trà – Đà Nẵng |
| 03 | Trần Mạnh Việt | 1968 | Hải Châu – Đà Nẵng |
| 04 | Trần Văn Phòng | 1960 | Kiến Xương – Thái Bình |
| 05 | Trần Quốc Trị | 1965 | Bố Trạch – Quảng Bình |
| 06 | Mai Văn Tuyến | 1968 | Tiền Hải – Thái Bình |
| 07 | Nguyễn Đức Hóa | 1966 | Quảng Ninh – Quảng Bình |
| 08 | Phạm Văn Thiền | 1967 | Bố Trạch – Quảng Bình |
| 09 | Tống Sĩ Bái | 1967 | Đông Hà – Quảng Bình |
| 10 | Hoàng Ánh Đông | Đông Hà – Quảng Bình | |
| 11 | Trương Minh Thương | 1963 | Quảng Trạch – Quảng Bình |
| 12 | Hoàng Văn Túy | 1966 | Quảng Ninh – Quảng Bình |
| 13 | Võ Văn Tứ | 1966 | Quảng Ninh – Quảng Bình |
| 14 | Nguyễn Bá Cường | 1962 | Điện Bàn – Quảng Nam |
| 15 | Kiều Văn Lập | 1963 | Phúc Thọ – Hà Nội |
| 16 | Nguyễn Minh Tâm | 1965 | Hưng Hà – Thái Bình |
| 17 | Võ Văn Đức | 1966 | Lệ Thủy – Quảng Bình |
| 18 | Trương Văn Hướng | 1966 | Quảng Ninh – Quảng Bình |
| 19 | Nguyễn Tiến Doãn | 1964 | Lệ Thủy – Quảng Bình |
| 20 | Phạm Hữu Tý | 1966 | Lệ Thủy – Quảng Bình |
| 21 | Nguyễn Hữu Lộc | 1968 | Hải Châu – Đà Nẵng |
| 22 | Trương Quốc Hùng | 1967 | Hải Châu – Đà Nẵng |
| 23 | Nguyễn Phú Đoàn | 1968 | Hải Châu – Đà Nẵng |
| 24 | Nguyễn Văn Kiên | 1968 | Nam Trực – Nam Định |
| 25 | Phạm Văn Lợi | 1968 | Hải Châu – Nam Định |
| 26 | Trần Văn Quyết | 1967 | Quảng Trạch – Quảng Bình |
| 27 | Phạm Văn Sự | 1968 | Hải Châu – Đà Nẵng |
| 28 | Trần Tài | 1969 | Hải Châu – Đà Nẵng |
| 29 | Lê Đình Thơ | 1957 | Hoằng Hóa – Thanh Hóa |
| 30 | Cao Xuân Minh | 1966 | Hoằng Hóa – Thanh Hóa |
| 31 | Trần Đức Thông | 1944 | Hưng Hòa – Thái Bình |
| 32 | Trần Văn Phương | 1965 | Quảng Trạch – Quảng Bình |
| 33 | Nguyễn Mậu Phong | 1959 | Lê Minh – Quảng Ninh |
| 34 | Đinh Ngọc Doanh | 1964 | Cam Ranh – Khánh Hòa |
| 35 | Hồng Công Đệ | 1968 | Tỉnh Gia – Thanh Hóa |
| 36 | Phạm Huy Sơn | 1963 | Diễn Châu – Nghệ An |
| 37 | Nguyễn Văn Phương | 1969 | Đông Hưng – Thái Bình |
| 38 | Bùi Bá Kiên | 1967 | Cát Hải – Hải Phòng |
| 39 | Đào Kim Cương | 1967 | Can Lộc – Hà Tĩnh |
| 40 | Đậu Xuân Tư | 1964 | Nghi Lộc – Nghệ An |
| 41 | Nguyễn Văn Thành | 1967 | Hà Tĩnh |
| 42 | Lê Bá Giàng | 1968 | Vinh – Nghệ An |
| 43 | Nguyễn Thanh Hải | 1967 | Hương Sơn – Hà Tĩnh |
| 44 | Phạm Văn Dương | 1967 | Nam Đàn – Nghệ An |
| 45 | Hồ Văn Nuôi | 1967 | Nghi Lộc – Nghệ An |
| 46 | Cao Đình Lượng | 1967 | Yên Thành – Nghệ An |
| 47 | Trương Văn Thịnh | 1966 | Tuy Hòa – Phú Yên |
| 48 | Võ Văn Tuấn | 1968 | Ninh Hòa – Khánh Hòa |
| 49 | Phạm Tấn Dư | 1966 | Tuy Hòa – Phú Yên |
| 50 | Vũ Phi Trừ | 1955 | Quảng Xương – Thanh Hóa |
| 51 | Vũ Văn Thắng | 1962 | Thái Thụy – Thái Bình |
| 52 | Phạm Gia Thiều | 1956 | Nam Trực – Nam Định |
| 53 | Lê Đức Hoàng | 1959 | Tỉnh Gia – Thanh Hóa |
| 54 | Trần Văn Minh | 1963 | Quỳnh Lưu – Nghệ An |
| 55 | Đoàn Đắc Hoạch | 1963 | Kiến Thụy – Hải Phòng |
| 56 | Trần Văn Chức | 1965 | Hưng Hà – Thái Bình |
| 57 | Hán Văn Khoa | 1962 | Tam Thanh – Phú Thọ |
| 58 | Nguyễn Thanh Hải | 1968 | Thủy Nguyên – Hải Phòng |
| 59 | Nguyễn Tất Nam | 1966 | Đô Lương – Nghệ An |
| 60 | Trần Văn Bảy | 1967 | Kim Bảng – Hà Nam |
| 61 | Đỗ Viết Thanh | 1966 | Thiệu Hóa – Thanh Hóa |
| 62 | Nguyễn Xuân Thủy | 1967 | Nam Trực – Nam Định |
| 63 | Bùi Duy Hiển | 1966 | Thái Thụy – Thái Bình |
| 64 | Phạm Hữu Doan | 1960 | Thái Thụy – Thái Bình |
VĂN NGHỆ GIAO LƯU
Không như ở đảo Sơn Ca và đảo Song Tử Tây, văn nghệ có tính cách quần chúng, dã chiến như không khí “Hát cho nhau nghe”.
Tối nay, buổi giao lưu được chuẩn bị chu đáo, sân khấu được trang trí rất hoành tráng, công phu bởi lẽ buổi trình diễn được thu âm, ghi hình phát trên đài truyền hình cho cả thế giới xem, do đó từ nội dung đến hình thức đều hết sức cẩn trọng và khi thực hiện chương trình là một buổi trình diễn chuyên nghiệp nên rất hấp dẫn. Buổi chiều trước khi khai mạc, cô Vũ Thị Thanh Tâm, người phụ trách chương trình đã nhờ và cùng quý thầy lễ Phật cầu nguyện cho đêm văn nghệ khỏi có những trở ngại. Đêm văn nghệ rất thành công. Hôm sau tôi mới biết sự cầu nguyện này có lý do rất chính đáng.
Đêm văn nghệ chấm dứt trong không khí vô cùng hoan hỷ của tất cả mọi người.
Đã hơn 9 giờ đêm ở chùa mới bắt đầu đăng đàn chẩn tế, với tâm niệm chí thành, Thượng tọa sám chủ và ban Kinh sư, ban Lễ nhạc, dù đã khuya vẫn thực hiện khoa nghi rất đầy đủ đến gần 1 giờ sáng mới hạ đàn.
Tối hôm nay có một kỷ niệm đáng nhớ, hơn 10 giờ đêm tôi mới về phòng nghỉ, thì chỗ ngủ đã bị tấn công bởi một quái nhân chình ình sải tay sải chân, há mồm kéo gỗ, tự nhận mình bị hạ vì bị đối phương vô hình sút thủng lưới nên tìm cái mền dù mình đem theo đi tìm chỗ ngã lưng, thì hỡi ơi, cái mền cũng bốc hơi, nên tôi cố gắng đi tìm xem ai cầm lộn. Tôi cứ lom khom đi nhìn từng giường, từng phòng như kẻ trộm, đang tìm không ra, ngồi thở ngắn than dài tối nay có lẽ “ngồi ca bài đêm nay không ngủ”, thì may, một vị sư già cầm cái mền dù của tôi tới hỏi: “Phải cái mền này của thầy không?”. Tôi mừng quá, cám ơn rối rít, không hỏi là nó ở đâu ra. Thế là tạm yên tâm, vì có cái mền này là an toàn được 50%, nhìn quanh, nếu ra sân, sợ ngộ gió độc, ở trong nhà thì các phòng, giường đã bị xâm chiếm hết lãnh thổ rồi, nhìn quanh, có rồi, kéo cái ghế trường kỷ ra hiên là tạo được long sàng. Tôi thực hiện ngay, nhưng, suốt đêm, vừa nóng, vừa bị muỗi oanh tạc, nên mất ngủ.
LỄ TƯỞNG NIỆM TRƯỚC MỐC CHỦ QUYỀN
Sáng ngày 07/05/2013, trời còn mát, trước cột mốc chủ quyền đảo Sinh Tồn, lễ đài được thiết trí lộ thiên, dưới sân, quan khách, binh lính và dân đảo đã ngồi kín các hàng ghế. Thầy Giác Không lên máy phóng thanh điều khiển chương trình (MC). Kịch bản đã được tham khảo kỹ lưỡng, từng câu, từng chữ, từng chấm phẩy được nhất quán, tính từng giây, từng phút, do đó buổi lễ rất thành công, các bài phát biểu rất có chất lượng, gây nhiều cảm xúc bởi tất cả đều hướng đến mục đích tưởng niệm, tri ân và cầu nguyện. Bài phát biểu của Ban Tôn giáo đại diện các Tôn giáo trong đoàn. Riêng phái đoàn Phật giáo có một bài riêng, Thượng tọa Huệ Thông đã viết bài phát biểu có nghiên cứu lịch sử, có văn phong mang đậm nét văn hóa Việt Phật và giọng đọc hùng hồn xúc cảm, gây ấn tượng đẹp của mọi người về Phật giáo.
Phần hành chánh xong là đến phần thắp hương tưởng niệm, mọi người lần lượt lên lễ đài thành tâm cầu nguyện, sau đó, phái đoàn Phật giáo đông nên chia hai, nửa vào Hội trường để tham gia buổi thăm viếng và tặng quà. Nửa còn lại trở về chùa Sinh Tồn cử hành lễ Cúng Ngọ, tạ Phật trước khi rời đảo.
Đến giờ phút này, mọi người mới thấy nhẹ nhàng là các buổi lễ đã diễn ra tốt đẹp, không có trở ngại gì vì đảo Sinh Tồn đang nằm trong tầm ngắm và bao vây của Hải quân Trung Quốc, sự canh gác nghiêm mật của các chiến sĩ trên đảo là lý do đó. Ban Tổ chức và Đại tá Trưởng đoàn công tác đã dự kiến một phương án 2, là nếu ở đảo Gạc Ma hay các đảo chung quanh có những triệu chứng bất thường các buổi lễ sẽ phải đình lại để lo ứng phó, thầy Giác Nghĩa – người chịu trách nhiệm và chủ sám đàn tràng ban đầu cũng dự kiến đến đảo Sinh Tồn làm lễ rước vong về đảo Trường Sa lớn mới thiết lập đàn chính thức, mà nếu vậy ở đảo Sinh Tồn, cũng vẫn còn lạnh lẽo, do đó mới bàn với các cấp chỉ huy và lãnh đạo của đoàn cứ thiết đàn cầu nguyện tại đảo Sinh Tồn, nếu có sự cố thì giải quyết theo phương án 2.
Nay nhờ Tam Bảo gia hộ, các linh hồn chiến sĩ hộ trì hai ngày, trai đàn đã thành tựu viên mãn. Sau lễ Tưởng niệm và trồng cây lưu niệm (cũng cây Bồ Đề, trồng trước sân chùa). Tất cả đều xuống ca nô trở về tàu, chỉ trừ ban Kinh Sư và các vị có công tác dọn đàn ở lại để giảm bớt áp lực sinh hoạt cho đảo vì điện nước quá khan hiếm, trời lại nắng nóng, giải quyết việc ẩm thực cho đoàn rất khó khăn.
Ban Hậu cần, ban Kinh Sư và chúng tôi rời đảo Sinh Tồn lúc 14 giờ ngày 07/05/2013, vài anh em chiến sĩ, vài hộ dân và các cháu nhỏ lưu luyến tiễn chúng tôi với lời chúc thân mật, người trên bờ, kẻ dưới tàu đưa tay vẫy chào, thầy Trú trì cũng đưa chúng tôi ra tận bến.
15 giờ, tàu nhổ neo trực hướng đảo Cô Lin.
Đảo Cô Lin là đảo chìm cách đảo Sinh Tồn 9 hải lý về phía Tây Nam, cách đảo Gạc Ma 1,9 hải lý đang bị Trung Quốc chiếm giữ, dùng ống nhòm thấy rõ họ đang xây dựng công thự kiên cố. Gặp lúc thủy triều xuống, anh em Hải quân chỉ cho chúng tôi thấy rải rác quanh đảo Cô Lin nổi lên vài viên đá mồ côi. Đoàn không vào đảo được vì phải chuẩn bị cho một lễ tưởng niệm và lễ thả đèn cử hành tối nay tại tàu.
Cũng như lễ buổi sáng, chi tiết được thảo luận kỹ trước 2 ngày, nay đến địa điểm hành lễ phải gặp nhau gút lại lần chót, hết sức thành tâm và cẩn trọng vì nơi đây là địa điểm đã xảy ra cuộc chiến ngày 14/03/1988 tại đảo Gạc Ma mà 64 chiến sĩ đã hy sinh. Trong thời gian chờ giờ hành lễ chúng tôi được các sĩ quan Hải quân kể lại vài nét cảm động nhất trong cuộc chiến: Khi anh em công binh của Hải quân trang bị vũ khí thô sơ theo tàu chở vật liệu ra xây dựng đảo thì bị Hải quân Trung Quốc bất thần tấn công bằng tàu chiến và vũ khí tối tân, khi họ khai hỏa mình đã thấy yếu thế, hoàn toàn bị động, vũ khí thô sơ, đang xây dựng nên chỉ có xẻng, cuốc, bay, búa là nhiều, tuy vậy, anh em quyết không đầu hàng, có binh sĩ quấn cờ Tổ quốc quanh người khi đang bị thương và bị Hải quân Trung Quốc đâm chết, khi tàu chở vật liệu xây dựng bị bắn chìm, anh em nhắm hướng đảo Cô Lin bơi thoát thì Hải quân Trung Quốc dùng ca nô đuổi theo đâm chết hoặc chúng ngồi trên ca nô dùng câu liêm móc như gặt lúa, quân ta đứt cổ, lòi ruột chết rất oanh liệt và lắm đau thương, có vài sĩ quan lái tàu tử thủ một cách anh dũng mới giữ được đảo Cô Lin. Đau đớn hơn là xác tàu Việt Nam bị bắn chìm ở quanh đảo Gạc Ma trong đó có nhiều xác binh sĩ Hải quân của chúng ta ở đó mà muốn đem xương cốt về với quê hương mà vẫn chưa được. Tôi bùi ngùi niệm Phật cầu nguyện cho các anh em, những chiến sĩ hy sinh vì Hải đảo thân yêu của Tổ quốc.
17 giờ 30, buổi lễ tưởng niệm được tiến hành tại sân thượng của tàu, các đơn vị quân nhân, đại biểu các đoàn, lễ phục nghiêm chỉnh, hàng ngũ chỉnh tề hướng đến lễ đài được thiết trí đơn giản mà rất trang nghiêm. Nhạc lễ Hồn Tử Sĩ réo rắt vang lên nhè nhẹ hòa cùng sóng biển rầm rì, gió reo từng hồi và màn đêm dần buông xuống, Đại tá Trưởng đoàn đọc bài tưởng niệm, nhắc lại vài nét hy sinh cao cả của trận chiến 1988 tại đây, ai cũng bùi ngùi xúc động, hết các đoàn, ban ngành của Chính phủ thắp hương tưởng niệm, đến phần các Tôn giáo lên trước lễ đài cầu nguyện theo nghi thức Tôn giáo của mình.
Thiên Chúa giáo – Tin Lành – Hồi giáo – Cao Đài – Hòa Hảo – sau cùng là Phật giáo có đại diện Tịnh độ Cư sĩ tham gia: Ban Lễ Nhạc khởi nhạc lễ, ban Kinh Sư khởi tán với đại chúng bài Khế Thủ Qui Y và bài Sám Hối. Thầy Giác Nghĩa xướng lễ vì đã nắm hết chương trình, thời gian rất nhịp nhàng. Sau phần nghi lễ của các Tôn giáo, Phật giáo đảm trách lễ thả hương hoa xuống biển, hai bàn thờ có đủ hoa đăng được thắp sáng do bốn chiến sĩ Hải quân khiêng lần lượt thả xuống biển, vừa đến mặt nước, một bàn tự nhiên bốc cháy nhưng vẫn theo sóng nước chập chùng lên xuống, theo sau là bàn thứ hai và trên 200 ngọn hoa đăng khác được làm bằng 2 chén nhựa úp vào nhau cho đèn khỏi tắt, trong lúc ban Kinh Sư, ban Lễ Nhạc, chư Tăng và Phật tử niệm danh hiệu đức Quán Thế Âm, giữa sóng nước mênh mông, bao la trời biển, chỉ một con tàu, hương chong đèn rạng, gần 200 con người đang nhìn xuống biển, theo các ngọn đèn lung linh chập chờn với sóng nước, khung cảnh thật huyền diệu linh thiêng, tôi tin anh linh các liệt sĩ, các nạn nhân trên biển cả chắc được ấm lòng, vì khi kỳ nguyện, các Tôn giáo khác chỉ cầu nguyện cho các liệt sĩ của CHXHCNVN nhưng lời cầu nguyện của Phật giáo thì “Không phân biệt tôn giáo, không phân biệt tín ngưỡng, không phân biệt chủng tộc, không phân biệt ý thức hệ, không phân biệt quốc gia, không phân biệt giai cấp, lớn nhỏ, tất cả các vong linh, hương linh, oan hồn hoạch tử, thọ bất thiện nghiệp, trầm thủy đao binh, chúng tôi cầu nguyện cho tất cả…”. Máy quay phim, chụp ảnh được sử dụng tối đa. Sau hơn 30 phút lễ thả hoa đăng mới chấm dứt, mấy thùng hoa tươi đều dâng hiến hết xuống biển. Riêng tôi, chí tâm niệm Phật, ngoài 64 liệt sĩ mà tôi đã ghi tên, tôi cầu nguyện cho cả anh em binh lính của chế độ VNCH, cũng đã từng chiến đấu với Trung Quốc mà hy sinh, khi giữ đảo, các ngư dân bị bão tố, các thuyền viên vượt biển bị Hải tặc, bị sóng gió, trong đó có bạn bè tôi, có cả con cháu tôi: Đoàn Thị Kim Chung, Đoàn Thị Lệ Viên, đã vượt biên mất tích trên biển… Tôi mong cho tất cả các linh hồn nương ánh Từ quang chư Phật mà giải thoát.
Đêm nay, tôi về phòng, giấc ngủ cứ chập chờn, thương quá các linh hồn, xương cốt đang chìm sâu giữa biển cả. Tôi ghi danh sách 64 liệt sĩ mà tôi đã khai thị và quy y cho họ đem về chùa cầu siêu, và ghi vào đây để ai đọc được thì xin góp một lời cầu nguyện.
Sáng ngày 08/05/2013, khi loa phóng thanh gọi “Đoàn tàu báo thức, báo thức toàn đoàn”, tôi thức dậy đúng 5 giờ sáng, lòng vẫn thương cảm các hương linh, và có 3 điều tôi cần ghi vào đây để nhớ:
- Một phóng viên tìm tôi và thầy Giác Nghĩa mở màn hình trong Ipad cho chúng tôi xem, cô ta đã chụp ảnh lễ cần nguyện hồi hôm và có 2 tấm hình rất lạ: một tấm có 3 nén nhang dẫn đầu cho một dòng hoa đăng trong đêm tối giữa biển khơi, một tấm dòng hoa đăng ấy xếp thành một bàn tay đưa ra như độ vớt các linh hồn, tôi nghĩ dù đó là ngẫu nhiên của các ngọn đèn, nhưng cũng là một hình ảnh đáng ghi nhận trên lãnh vực tâm linh.
- Sáng ngày 08/05/2013 các nhà ngoại cảm ở Hà Nội điện ra cho các vị lãnh đạo của đoàn: “Chuyến đi và các lễ cầu siêu tại đảo Sinh Tồn và đảo Cô Lin rất thành công vì hiện tại các hương linh, các vong linh đã rất hoan hỷ được giải thoát, đang theo đoàn để vào đất liền”.
- Khi đoàn đang làm lễ tưởng niệm và thả đèn gần biển đảo Gạc Ma (do Trung Quốc chiếm đóng), trên đảo chắc chắn Hải quân Trung Quốc đều theo dõi và biết rõ nhưng họ án binh bất động, vì nếu họ có những động thái gì cản trở thì không khỏi có những sự kiện phức tạp xảy ra, vì nhìn chung thì êm ả, nhưng sự chuẩn bị để giải quyết những biến cố thì Bộ Ngoại giao, Bộ quốc phòng đang theo dõi từng bước sinh hoạt của đoàn và các đơn vị Hải quân đang theo sát bảo vệ đoàn tối đa. Cũng may, nhờ hồn thiêng đất nước che chở mọi việc đều tiến hành tốt đẹp.
ĐẢO TIÊN NỮ
Sáng ngày 08/05/2013, đoàn đến đảo Tiên Nữ.
Tiên Nữ là một đảo chìm, cách Cam Ranh 374 hải lý, tàu thả neo, vào đảo bằng ca nô, dù đảo có chiều dài hơn 6km, ngang gần 3km, toàn là bãi san hô, chỉ khi thủy triều hạ xuống mới nhô lên vài mầm đá. Theo lời các chiến sĩ Hải quân kể lại: Đảo có tên Tiên Nữ là do câu chuyện về một người con gái xuất hiện giữa biển khơi đem lại bình yên cho biển đảo.
Một tòa nhà ba tầng và một tầng hầm xây dựng và bố trí là một pháo đài kiên cố, vừa làm việc, vừa ăn ở, vừa phòng thủ, chung quanh là sóng nước, có vài vườn rau nho nhỏ che chắn kín đáo để cải thiện của quân nhân, rau được trồng trong các thùng xốp vuông vuông sắp sát vào nhau để khỏi chiếm không gian quá nhỏ. Nhìn từ xa đảo Tiên Nữ như một tòa nhà ở đất liền giữa đồng bị lụt, nước phủ tứ bề. Trong đó, mấy chục anh em sống với nhau vui buồn sướng khổ, chỉ trong căn nhà lầu quanh năm suốt tháng, một đàn chó chạy loanh quanh vui mừng ngúc ngoắc đuôi đón đoàn, ngoài ra chẳng có gì khác. Như vậy, việc tiếp tế lương thực đã thấy một điều quá khó khăn. Còn nước uống? Chỉ trông chờ vào những trận mưa và có hệ thống tận thu dẫn vào hồ để dùng quanh năm, dĩ nhiên là rất hạn chế.
Trong lúc ban chỉ huy đảo làm việc với đoàn thì đội văn công hát ca với anh em quân nhân ngay tại phòng ở.
Tại Hội trường của đảo ở tầng 3 để sẵn trên bàn 2 cuốn sổ bìa cứng màu đỏ cho các đoàn đến thăm viết lưu bút. Sẵn viết trên tay tôi viết vào mấy câu thơ:
Đến tại đảo Tiên Nữ
Lòng cảm xúc bồi hồi
Ôi thương quá đi thôi
Đời các anh chiến sĩ
Sống hy sinh tuyệt mỹ
Giữ biển đảo quê hương
Xin gởi trọn tình thương
Đến các anh chiến sĩ.
Nếu ở đất liền, nghe danh từ đảo chìm thì không hình dung được như thế nào và nếu chìm thì cây cối, nhà cửa ra sao. Khi đến đây mới biết đảo chìm là biển cạn, tàu lớn không vào được, bãi san hô lấp xấp với mặt nước, có nơi chỉ nổi lên vài mỏm đá, vài đảo rất lớn, diện tích có mấy chục cây số vuông, Hải quân Việt Nam xây dựng công thự để giữ đảo ở những nơi cạn nhất hay trên các mỏm đá, do đó việc xây dựng, ăn ở quả là một vấn đề trọng đại, đòi hỏi một tinh thần hy sinh phấn đấu rất cao.
Đoàn sinh hoạt tại đảo Tiên Nữ gần 3 tiếng đồng hồ và may mắn đón nhận một trận mưa khá lớn, anh em trên đảo rất vui mừng, có anh đã phát biểu: “Phật Pháp nhiệm mầu, quý thầy đem Từ vân Pháp vũ tưới mát cho chúng con, ba tháng nay nắng nóng không một giọt mưa, nước dùng sắp cạn, vui mừng quá thầy ơi!”. Nghe mà thương quá những quân nhân Phật tử của tôi, Đại tá Trưởng đoàn công tác số 9 cũng rất hoan hỷ: “Thầy trò ta đến đây mời được thần mưa theo cùng”. Trong lời tâm sự với đoàn và anh em chiến sĩ, Đại tá nêu rõ: “Đảo Tiên Nữ là đảo cực Đông của Tổ quốc, vậy mà trên chương trình lên đỉnh Olympia khi có một thí sinh đã nói như thế thì bị MC, người điều khiển chương trình cho là em đó giàu tưởng tượng chứ làm gì có đảo Tiên Nữ, đây là điều đáng buồn”.
Tôi viết ngang đây thì máy phát thanh vang lên: “Hết giờ nghỉ, toàn đoàn báo thức, báo thức toàn đoàn” và tiếp theo bài hát hùng hồn vang lên “Ngày qua ngày, đêm qua đêm… Chúng ta đứng đây gìn giữ quê hương… Biển này là của ta, đảo này là của ta, Trường Sa, dù phong ba, dù bão tố, dù gian khổ… Đem chí trai giữ gìn Tổ quốc Việt Nam ta…”.
*
* *
Ý chí, khí phách, lập trường thể hiện qua bài hát – oai dũng, kiên quyết trong lời văn, tươi vui, rộn rã trong nốt nhạc – Tôi nghe, đã thấy ấm lòng, hãnh diện Việt Nam ta con Lạc cháu Hồng.