DIỆU LIÊN – DIỆU UYỂN

- DIỆU LIÊN – DIỆU UYỂN
Kể các điệu nam mà quên hai điệu nữ e bất công – nên phải thêm rằng: Khi chưa có một điệu nam nào, thì hai điệu nữ tập xuất gia đầu tiên là Diệu Liên (Trung Thanh), Diệu Uyển (Thánh Hưng) hai điệu này muốn tu nhưng đang là công nhân, nên xin làm một cái cốc nhỏ ở góc vườn – ban ngày đi làm ban đêm về đọc kinh tụng niệm, xa dần gia đình. Dù trình độ văn hóa không cao nhưng tâm tu rất tốt, do đó mà kinh kệ học rất chóng thuộc, lại có óc tìm tòi học hỏi giáo lý, nên rất có căn bản.
Tôi và thầy Kiến Tánh thường nói giỡn: “Hai đứa mình độ hai đứa nhỏ – để công bình, cho chúng nó bắt thăm, đứa nào gặp thầy nào thì làm đệ tử thầy đó – may rủi tùy duyên”. Diệu Liên thì im lặng, mà Diệu Uyển thì rất ngại sợ bắt nhằm làm đệ tử tôi thì khổ, cô bé rất sợ làm đệ tử tôi, vì thường ngày cô ta than thở: “Ông MT khó quá, lại keo nữa, khó ở”. Vì vậy, khi tôi dẫn Diệu Liên về Trung, định gởi tu ở Huế, ở nhà Diệu Uyển đã đi tu ở chùa Vân Long. Còn Diệu Liên về Huế xem xét chờ hồng ân, Diệu Đức, An Phước, Diệu Liên cũng muốn ở lại với cô Như Minh nhưng bản chất người Nam. Sợ quá nên trở về xin vào tu viện Liễu Đức. Sau đó đi học ở Ni viện Thiện Hòa lớp đầu tiên, sau lên Pháp Hoa và bây giờ trụ trì chùa Từ Phong.
*
Tuy là am cốc tre lá nhưng tôi cũng lo lễ an vị nghiêm túc – lễ an vị không mời nửa người khách. Sư huynh Huệ Tánh lo tất cả: chủ lễ, kinh sư, ẩm thực từ Phan Thiết đem vào – chở một xe lam ứ hự: nào là bún bánh, nồi, soong, chén tô, đũa, muỗng, bông trái. Từ A đến Z hoàn toàn do môn đệ Bồ Đề Phan Thiết và GĐ họ Quảng mua sắm đem vào. Quảng Trí là người lo lắng nhất, sau đó là Quảng Hiệp, Quảng Anh, Quảng Do, Quảng Thanh, Quảng Tùng, Quảng Liễu… Cả nhà họ Quảng chung sức sắm đầy đủ đồ dùng, từ đó tôi bớt phần khó khăn trong cuộc sống và cũng từ đó các H.T. trong GĐPT, các môn sinh Bồ Đề Phan Thiết, Tuy Hòa, Cam Ranh, những Phật tử quen biết ở Sài Gòn, Long Thành lần đầu tìm đến, có nhiều học sinh đang là công nhân, giám đốc, bác sĩ, kỹ sư, công an, quân đội tìm đến, có người tham vấn giáo lý, có người vấn kế giải quyết khó khăn, có người thủy chung tình nghĩa sư đệ, có người gởi con em theo tôi tu học, có lúc Ban Hộ tự, Ban Tổ chức mời đi giảng, đi giúp tổ chức lễ đặt đá xây chùa, lễ khánh thành, lễ an vị, đám tang, thuyết linh – thế là Phật tử mỗi ngày một nhiều, tịnh thất mỗi lúc mỗi đông, người ở đông nên phải lo nhà cửa, nơi ăn chỗ ở, nhà vệ sinh, giếng nước, nhà kho, xe cộ, học hành, gạo muối, mắm rau, chén bát, bàn ghế v.v… Lúc đầu vài chú, đông lên 9, 10 và bây giờ thì tổng số hơn nửa trăm, càng đông nuôi dạy càng mệt, phiền não càng nhiều, lo lắng càng tăng mà tuổi tác càng cao, sức khỏe càng yếu. Nên thú thật, tội lỗi càng chất chồng và càng tiếc nuối thuở ban sơ rất an vui pháp lạc.
Kinh Di giáo đức Phật có dạy: “Cây đại thọ mà bị chim muông tụ tập đông đảo không khỏi bị gãy cành rụng lá”. Tôi chỉ là cây non, cây nhỏ, chưa gãy cành trúc gốc đã là may.
Cũng vì thế, nên xin được góp nhặt thêm vài hạt kim cương tiếp theo trong thời gian đồ chúng hội tập và mở rộng Nguyên Phong (Phật Ân).
*
- HẠNH PHÚC
Đó là cô Hạnh và cô Phúc – Hạnh là học trò cũ của tôi ở Tuy Hòa – Thầy trò bặt tin nhau gần 20 năm, nay gặp lại. Hạnh có niềm tin vào Tam bảo giới thiệu Phúc là bạn gái cũng là một Phật tử thuần thành. Cả hai mua đất làm cốc tịnh tu. Sau đó, vì hoàn cảnh GĐ, về lại Sài Gòn và nhượng cúng đám đất để tôi mở rộng vườn cảnh, đó là đám đất hiện làm trai đường, nhà kho, nhà bếp – biết ơn Hạnh và Phúc.
*
- T.T GIỚI HƯƠNG
T.T Giới Hương trụ trì chùa Diệu Đế (Huế) nhân dịp vào chữa bệnh ở Sài Gòn, T.T vốn là người thuộc diện tiền bối, ưa yên tĩnh vườn cảnh, thích thưởng thức hương cau hương bưởi, ưa ngắm thửa ruộng hàng tre, ăn thì ưa canh môn bông bí, khi dưỡng bệnh thích về chốn thôn quê, do đó mà cảnh Nguyên Phong (Phật Ân) rất thích hợp với thầy – lại thêm có vài điểm sở thích giống nhau, nên về dưỡng bệnh ở Nguyên Phong (Phật Ân) và có duyên mua đám đất cô Minh Nghiêm giao cho tôi nhập chung thành một vườn dài 5 chủ. Do vậy mà P.A. mới rộng rãi như hôm nay.
Điều đáng nhớ trong việc mua đất cô M.N. cô là học trò thầy Diệu Đế nên chỉ muốn nhượng cho thầy Diệu Đế chứ không muốn bán cho tôi. Thật mà nói, cô ghét tôi thì phải – Tôi lại rất nghịch, ai ghét, chọc cho ghét cay ghét đắng mới thôi. Có lẽ là lỗi tôi nhiều hơn. Thứ đến, tôi vốn đã “giàu ngược” nên chả có xu nào, thầy Diệu Đế cũng không hơn gì vì thế mới điện ra Huế bán chiếc Honda mới có tiền để trả. Thầy Diệu Đế là vị giáo thọ đầu tiên của Nguyên Phong (Phật Ân) nên nhớ mãi ơn thầy nhiều mặt.
*
- NHẬP THẤT
Thuở ban đầu khai mở Nguyên Phong (Phật Ân), năm nào tôi cũng nhập thất 1 đến 2 lần. Mỗi lần từ 7 – 10 ngày theo phương pháp “nhịn đói”, tịnh thất nên ít người hộ thất – Diệu Trí và Trung Thanh là hai Phật tử quan tâm, ở ngoài nhận giấy để giúp tôi trong những việc cần. Có một lần tôi nhập thất đến ngày thứ 5 thì công an xã, huyện, tỉnh phối hợp vào xét nhà. Tôi tịnh khẩu và bút đàm với họ. Sau khi lập biên bản xong, vị trưởng đoàn đã phát biểu:
- Thầy yên tâm, vào đây chúng tôi mới biết rõ cuộc sống và sự tu hành của thầy. Người ta báo cáo về thầy trật hết. Xin thầy thông cảm.
Khi ra đi, họ nói với nhau “Cũng lạ, ổng không có tiền bạc, không có gạo cơm, không nhiều quần áo, một chén một đũa vậy mà ổng sống được – Tội quá”, (xin thưa, lúc này Sư huynh H. Tánh chưa chở đồ dùng vào). Sau cuộc kiểm tra ấy, tôi yên ổn. Mãi sau này khi có chúng đông tôi mới rắc rối vài lần. Cũng kiểm tra hộ khẩu, cũng phạt tiền vi phạm hành chánh, cũng gọi ra xã, ra huyện kiểm điểm – lâu dần cũng quen. Trong những năm gần đây chính quyền xã thông cảm xử sự tình lý trọn vẹn, anh em ở tỉnh huyện thường ghé lại chơi và cũng tỏ ra thân mật cảm mến nhau nên ít có sự phiền lòng nhau như trước.
*
- TĂNG ĐÁO NHƯ PHẬT LAI
Vị tăng đầu tiên đến thăm và rủ tôi đi vượt biên là thầy Quán Không ở Huế, thầy bao toàn bộ phí tổn. Tôi không hưởng ứng mà chỉ giúp thầy giải quyết việc ăn ở di chuyển chờ đợi, ngoài ra tôi không quan tâm việc gì khác. Tôi không đi vì không thích, vả lại còn mẹ già, còn bổn sư yếu bệnh, chứ lúc này tôi rảnh rang không vướng bận chùa chiền, đệ tử nên rất dễ đi. Thầy Quán Không khi đi được ở NaUy cho đến lúc viên tịch không có liên lạc gì với tôi cả. Sau thầy Quán Không – Tôi được đón tiếp quý Ôn như: H.T. Đức Nhuận, H.T. Tâm Hướng, H.T. Phi Lai, H.T. Minh Châu, H.T. Thiện Châu, H.T. Diệu Bổn, H.T. Từ Mãn có đến thăm – Quý T.T. Trừng Thể, Thanh Tùng, Chơn Tịnh, Giới Hương, đến ở hoặc an cư. Các bậc trưởng thượng, các pháp hữu ở Quãng Trị, Huế, Sài Gòn, Tuy Hòa, Bình Định, Nha Trang, Phan Rang, Phan Thiết, Long Khánh, Bình Tuy… đều có đến với sự hoan hỷ chân tình. Như quý T.T. Đức Chơn, Phước Thông, Thiện Đạo, Đồng Tiến, Nguyên Đức, Chơn Thành, Thông Bửu, Chơn Kiến, Huệ Tâm, Hải Mẫn, Minh Chiếu, Phước Châu, những phước báo, những thiện duyên, những tình cảm ấy với Nguyên Phong (Phật Ân) tôi vô cùng trân quý vì không phải các ngài đến để xem chùa to, cảnh đẹp mà đến với sự thương yêu cảm mến thầy trò chúng tôi ở Nguyên Phong (Phật Ân).
*
- TỪ PHONG
Trong thâm tâm – tôi tự nguyện sống với tuổi trẻ, vì tuổi trẻ, tất cả hy sinh cho tuổi trẻ, xuất thân từ GĐPT, đi tu và thọ giới trễ cũng vì ham thích sinh hoạt GĐPT – Khi còn dạy học ở Cam Ranh, Tuy Hòa, Phan Thiết tôi đều tham gia hoặc đứng ra tổ chức, hoặc làm cố vấn cho các tổ chức thanh niên Phật tử, Hướng Đạo Phật giáo, HS. Phật tử, Sinh viên Phật tử,…
Năm 1987 đảm trách lớp đào tạo tăng ni của huyện Long Thành nội trú tại chùa Pháp Hoa do Ban đại diện ủy nhiệm. Có thể nói lớp học này tiên phong, là tiền thân của trường cơ bản Phật học Đồng Nai bây giờ. Lúc đó, các tỉnh chưa có lớp cơ bản nên tăng ni tụ về khá đông, từ QT. vào đến các tỉnh miền Tây – và cũng vì thế nên bị áp lực từ nhiều phía – T.T. Nhật Quang, Kiến Tánh, Giải Quảng và tôi chống đỡ không nỗi nên đành giải tán, tôi ôm hoài bão chôn chặt vào rừng cao su. Tăng ni, thầy bạn, uống nước mắt chia tay. Một số tăng ni theo tôi cho trọn nghĩa. Do đó mà tôi phải kiến tạo thêm Từ Phong để các em có nơi ăn ở tu học… Không trường lớp thì gia giáo nội tự, nhưng… “mưu sự tại nhân, thành sự tại duyên”, lòng người biến chuyển, sự thế bạc đen – gặp khó khăn nhiều phiền não. Mở trường cho tập thể không được, mở lớp gia giáo cũng không thành – nên tôi chỉ lo cho chúng điệu Nguyên Phong (Phật Ân) còn Từ Phong giao cho Trung Thanh quản lý. Riêng Trung Phong thì “xem như không có”. Sau này vì nhu cầu cần thiết tôi phải lo thêm An Phong, Thanh Phong, Pháp Phong và Linh Phong nữa. Đó cũng là lý do cũng vừa là trách nhiệm của Nguyên Phong (Phật Ân) với các nơi trực thuộc.
Những hạt kim cương hay những viên sỏi ngày đầu khai mở Nguyên Phong (Phật Ân) và thời gian mở rộng – tất cả đều là kỷ niệm đẹp. Tôi ghi lại để nhớ, để thương, để khắc ghi vào đời. Đời của tôi, đời của bạn, hoặc là không của ai cả – Để vậy năm này, năm sau hay không năm nào hết – cũng được.
NGUYÊN PHONG (PHẬT ÂN)
Đất & Nhà
Nguyên nhân, điều mà không có việc gì thiếu được. Sau này, muốn tìm rõ, tra cứu hoặc thắc mắc! Hỏi ai? Ai biết? Có chính xác không? Thì đây, nói rõ để ai muốn nghe, muốn biết. Còn không, xếp lại, đừng xem, đừng nhìn, kể các các môn sinh, đệ tử của Nguyên Phong (Phật Ân).
ĐẤT
Năm 1981. Ra khỏi trại cải tạo, nhà nước đưa tôi về quản thúc tại quê nhà (thôn An Truyền, xã Phú An, huyện Phú Vang, Thừa Thiên). Khó chịu với những gì ngang trái của cuộc đời, với bản thân, tôi yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết một trong hai hướng: ở tù tiếp hoặc được tự do thật sự. Thông cảm, bên cạnh có sự can thiệp của các bạn bè, em út, nhất là 3 người em con chú ruột là Đoàn Đình Lan, Đoàn Đình Huệ và Đoàn Thu Ái là cán bộ tập kết ở Bắc vào đang là cán bộ của nhà nước, nên Công an huyện Hương Phú cấp giấy “cho đương sự đi kinh tế mới tự túc ở các tỉnh phía Nam”.
Được giấy này, với một chiếc áo duy nhất, bạc màu, rách và do thầy Thông Anh ở Cam Ranh tặng. Trong đời, giai đoạn này đúng nghĩa đói không cơm, lạnh không áo – nhưng khá thú vị vì đúng nghĩa “Nhất bát thiên gia”. Tôi lang thang trên mọi nẻo đường ở các tỉnh: Long Khánh, Sông Bé, Tây Ninh, Long An, Cần Thơ, Trà Vinh, Mỹ Tho… vừa tìm thăm bạn bè, người thân xem ai sướng, ai khổ, ai còn, ai mất, vừa tìm đất sống và cuối cùng dừng chân tại Đồng Nai, nhờ có vợ chồng Mai Trác giới thiệu về Long Thành và thầy Kiến Tánh giới thiệu đám đất 2 công giá 2 chỉ của bác Năm Hoàng bán, Quảng Tùng, Quảng Liễu bỏ tiền ra mua và một cái chòi vách đất, lợp lá đầu tiên mọc lên, phí tổn 7.000 đồng do Mai Trác vận động. Thế là tạm có chỗ dung thân.
Rừng cao su bạt ngàn hoa nắng
Sáng sương rơi, tối ngắm trăng thanh
Chim reo, suối hót, gió lành,
Câu kinh, tiếng mõ, am tranh sớm chiều.
Năm 1986 anh chị Tám Bốc bán tiếp đám vườn 2 công, giá 3 chỉ. Tôi đi Phan Thiết lấy bộ máy phóng thanh, gia tài còn lại, đem bán được 1 chỉ, mượn cô Niệm thêm 1 chỉ, thiếu 1 chỉ vợ chồng Tường Nguyệt cúng 1 chỉ này trả nợ.
Năm 1987, cô Trần Thị Phúc mua 3 công đất của anh Trí, 4 chỉ, sau đó nhường cho Hạnh ở, vài năm sau, Hạnh nhường lại cho Phúc, Phúc hiến cho chùa, vườn lại được rộng thêm.
Năm 1988, cô Minh Nghiêm bán sở vườn 4 công, thầy Diệu Đế điện ra Huế, bán chiếc Honda, lấy 5 chỉ vào trả. Mở rộng thêm vườn. Trong thời gian này dọc theo suối và nghĩa địa có mấy đám rừng nhỏ, hầm hố, sát ranh – Thầy trò cùng nhau phát dọn, san lấp, vườn được mở rộng thêm được vài trăm thước vuông.
Cũng trong thời gian này – mấy đám đất thấp trồng rau không được, trồng lúa không xong. Thầy trò quyết định đào thành hồ sen lấy đất lấp vào các hầm hố, nhờ vậy đất vườn tương đối bằng thẳng hơn.
Năm 1989, Út Nai bán đám vườn hơn 1 công giá 2 chỉ mua cho bà Diệu Thông làm thất. Các con bà Thông không đồng ý nên bà nhượng lại và chỉ lấy 1 chỉ. Cháu Trần Thị Loan (ở Mỹ) cúng 1 chỉ này trả cho bà Diệu Thông.
Thế là gom hết 5 vườn hơn 1 mẫu.
Mãi đến năm 1998 bà Vũ Thị Lý bán hơn 2 công đất tiếp sát nhà bếp. Lúc này nhà cửa Nguyên Phong (Phật Ân) đã tương đối ổn định và chúng điệu khá đông cần mở mang diện tích nên mua với giá ba chục triệu đồng (chưa kể phí tổn giấy tờ chuyển nhượng nhờ anh Tốt lo giúp ít tốn kém mà đúng tình, đúng lý, đúng pháp luật), số tiền này nhờ cô Như Trí (Phan Thiết) và Phật tử thân quen ở Sài Gòn mượn giúp. Sau 3 tháng cô Trung Thanh bán đám vườn của cô cho thầy Phước Thuận và cúng cho Nguyên Phong (Phật Ân) nửa số tiền bán được và trả nợ sòng phẳng.
Thế là hiện nay diện tích chùa Nguyên Phong (Phật Ân) có độ 2 mẫu gom cả 6 vườn và khai phá thêm, trước sau tốn 85 chỉ và thời gian kéo dài từ lúc sơ khai 1981 đến nay (1999) là 19 năm tròn, chưa kể mồ hôi đổ xuống suốt 19 năm của thầy và trò để có được NHÀ và VƯỜN của Nguyên Phong (Phật Ân) ngày nay.
Được cũng có mà mất nhiều hơn vì buổi ban đầu, sơ khai, nhớ mà vui, ở với rắn rít, ăn chung với chuột, ngủ với bò cạp, làm bạn với ma, nhưng có lúc ca với suối, cười với chim, tụng kinh với gió – thanh thoát vô cùng, nhớ lại mà thèm. Ôi! Còn đâu những ngày thong dong tự tại giải thoát ấy!
NHÀ
Chuyện đất như thế, chưa hết, vì còn chuyện đất của các chùa trực thuộc: Từ Phong, Pháp Phong, Hoa Phong, Trung Phong, An Phong, Thanh Phong, Hương Phong, Hòa Phong và hiện nay đang tiến hành kiến tạo Kim Sơn, sẽ có dịp nói thêm cho bà con rõ. Bây giờ nói qua chuyện nhà:
- Cái nhà đầu tiên (nói là nhà cho có vẻ) chứ đúng nghĩa là cái “chòi”, diện tích 12m2 kể cả bàn Phật, chỗ ngủ và bếp núc, lợp lá, vách đất, cửa tre, phí tổn 7.000 đồng. Để có cái chòi này là công đức của bác Ngàn, bác Kiều, Diệu Bích, Diệu Trí, Diệu Liên, Diệu Uyển và Như Sơn. Thế mà cũng có các đệ tử xuất gia. Đạm, Hòa, Thiện, Tuệ, Thủy, Trung Thanh, Trung Định, có Phật tử hộ trì: Phúc, Hạnh, Thanh lớn, Thanh nhỏ…
- Cái nhà thứ hai 9m2 lợp tranh, vách ván, nền đất, sau này xin được ngói vảy cá lợp thay tranh vì chuột và rắn nhiều quá, rui mè bằng tre hiện tại là nhà trú trì ở, chung quanh là hồ thả sen 4 mặt, muốn, phải qua một cái cầu tre lắt lẽo gọi là Đoạn Trần Kiều như vào một ốc đảo nhỏ.
- Nhà thứ ba được làm rộng rãi hơn để làm Chánh điện, cũng vách đất, lợp giấy dầu, nền lót gạch tàu, vì cái nhà thứ nhất không còn sử dụng được nữa. Kinh phí hơn 1 triệu mượn của Hạnh và một năm sau mới trả hết. Căn nhà này chỉ tồn tại được 3 năm cũng do mối, chuột và rắn phá hoại đã bị hủy diệt hoàn toàn.
- Vì vậy nên mới làm cái nhà thứ tư vào năm 1994. Nhà này mua nhà cũ của ông Sáu Nọc từ Xuân Trường, Xuân Lộc đem về (căn nhà này công của Thọ Dung và Tiến không nhỏ). Nhà gác gỗ, lợp ngói, trên làm Chánh điện, dưới làm phòng học. Công thợ hồ là của Năm, Tư và Bảy. Công thợ mộc là Tiến và Sáu. Phí tổn 10 triệu đồng do bà Đỗ Thị Gái (Bà Rịa) cúng 6 triệu và Trần Thị Loan, Nguyễn Thị Mai ở Mỹ (học trò cũ 39 năm về trước ở Diên Trường và Tân Dương – Huế).
Nhà này hiện là Chánh điện – không biết tồn tại được bao lâu, nhưng mỗi lần Tăng chúng hay Phật tử lên làm lễ đông thì rung rinh kèo kẹt hoặc khi mưa to gió lớn thì ngồi mà lo. Có nhiều Phật tử và các cấp Chính quyền khuyến khích tôi xin phép làm lại Chánh điện. Tôi chỉ biết cám ơn mà chưa hề có ý kiến làm chùa mặc dù đã có hai kiến trúc sư vẽ giúp 2 kiểu chùa khá đẹp. Có lẽ để dành Phật sự này cho lớp hậu sanh hoặc khi hội đủ nhân duyên sẽ tính.
- Khi có chúng đông phải có chỗ ở, chỗ học, thế là thầy trò xin tràm, chặt tre làm phòng học, nhà ở. Gặp dịp anh Trần Làn (ngã ba Vũng Tàu) cúng và bán rẻ một số cây gỗ, GĐ Tư, Năm, Sáu, Bảy giúp công thợ hồ, Tiến (anh Trung Tú) lo công mộc nên làm hai cái nhà hiện nay là Đông Lang Tây Lý và sửa sang phòng họp lợp lá thành lợp ngói. Nhìn bên ngoài là nhà ngói nhưng bên trong rui mè bằng tre. Còn phòng học thì dùng làm thư viện.
- Khi đang còn dạy và điều hành lớp học cho Tăng Ni tại Pháp Hoa (1989), có đám đất định làm thất ở cho gần chúng để điều hành, sau này xét không còn cần thiết nữa nên bán được hơn 15 triệu, đồng thời còn một số gỗ làm Chánh điện (lầu) thừa lại, tôi quyết định làm nhà Khách với số tiền và vật liệu này. Ăn Tết xong năm 1997 ngày 6 tháng Giêng năm Đinh Sửu khởi công – Đúng một tháng sau thì hoàn thành với số tiền rất khiêm tốn, nhờ sự nỗ lực của gia đình Tư, Năm cũng như phần mộc cũng do Tiến, Sáu gia công với chú Trung Lực (Phước Niệm). Hiện ngôi nhà này làm nhà Khách khá nghiêm chỉnh. Làm xong, có anh Nguyễn Châu, Trưởng ban HD/GĐPT/VN ở Đà Lạt thực hiện một bức phù điêu để kỷ niệm mang hình ảnh sinh hoạt của GĐPT và cảnh chùa Linh Mụ, Cố đô Huế để luôn nhắc nhở nguồn cội và tổ chức đã góp phần đào luyện đa số tu sĩ tại Nguyên Phong (Phật Ân).
- Mùa xuân năm 1998, ngày 11 tháng Giêng Mậu Dần – khởi công làm Trai Đường, nhà không tường, không cửa, lợp tole, cũng lát gạch men bể do Phước Ngọ, Thanh Xuân, đặc biệt là vợ chồng Phước Toàn giúp đỡ nên tốn kém rất ít. Khi ngồi ăn nóng quá nên Phật tử Nguyên Lợi ở Xuân Trường phát tâm đóng trần nên Trai Đường cũng tương đối thoáng mát, rộng rãi.
- Mùa xuân năm nay 1999, ngày 8 tháng Giêng năm Kỷ Mão – khởi công xây nhà chúng. Trước khi làm đã chuẩn bị từ năm trước, chặt tre, uốn thẳng, ngâm nước hơn 600 cây. Gia đình của Trung Kính, Trung Thắng, Trung Kim cúng 80 cây bạch đàn. Gia đình thầy Tư ở Định Quán cúng 2000 viên đá chẻ chỉ cần mua lá lợp, chung quanh dựng cót để ở tạm. Đến khi làm ai cũng bàn, một lần làm lần khó, lợp lá tốn kém, công của tu bổ thường xuyên lại thêm nạn sâu chuột, rắn rít, bò cạp, chúng điệu ở nguy hiểm. Trung Thanh cũng phát tâm cúng tiền bán đất, một số Phật tử yểm trợ ít nhiều (đã có danh sách) vì thế, gồng mình xây tường, đúc trụ, rui mè sắt nhờ chú Việt ở Hòa Bình mua sắt tại gốc giá rẻ, Gara Hòa An phát tâm cho thợ hàn thực hiện. Tư, Sáu, Bảy mua được số ngói cũ chỉ 300 đồng 1 viên, chở về thầy trò anh em trong nhà hè nhau chùi rửa, lợp lên tưởng như ngói mới, nền nhà cũng lát gạch men do công của Hồng (con anh chị Cung Quế) ở Long Thành mua rẻ tại công ty Kim Phong và vợ chồng Phước Toàn cúng một số. Vui nhất là tăng chúng Nguyên Phong (Phật Ân) đi học ở Đại Tùng Lâm lượm gạch bể của các chùa loại bỏ, nghĩa là các chùa đó xin được gạch bể ở các hãng, về chọn bể loại 1 loại 2 mà làm, còn loại 3 loại 4 thì vứt, và Nguyên Phong (Phật Ân) đi lượm, xin lại loại này về tận dụng lót hiên nhà, đẹp hết chê, khó ai theo kịp. Sau đúng hai tháng thi công, nhà chúng đã hoàn thành và dọn vào ở sang hơn hoàng đế!
- Ngoài ra còn có một ngôi nhà đặc biệt hiện làm nhà Tổ chẳng tốn đồng nào lại có lời, nếu muốn. Nghĩa là mua một ngôi nhà cũ giá 15 triệu (trị giá ngôi nhà là trên 50 triệu). Sau khi làm xong số ván không dùng bán đi đủ 15 triệu trả đủ tiền mua nhà, ván sàn không dùng còn lại người ta hỏi mua 15 triệu nữa. Nghĩa là số ván không dùng là đủ vốn, còn ngôi nhà không tốn đồng nào, cũng chẳng có ai cúng đồng nào mà lại có lời 15 triệu nữa nếu bán số ván sàn còn lại.
- Nhà kho, nhà bếp thì tận dụng cây, ván, tole dư thừa không tốn đồng nào cả.
* * *
Cơ sở Nguyên Phong (Phật Ân) mấy ai không nghĩ là có tài chánh dồi dào hoặc có viện trợ từ xa – nếu có, cũng tốt lắm, có sao đâu, nhưng không thể không tôn trọng sự thật mà lại là một sự thật tạo phước điền thì ai nỡ vô tình với công đức. Tưởng cũng nên xác định lập trường của Nguyên Phong (Phật Ân) là cảm niệm công đức từ mọi nơi, mọi người đã quan tâm, nhớ nghĩ đến Nguyên Phong (Phật Ân) và rất trân quý sự quan tâm đó dù chỉ một sự tán đồng, một lời khuyến khích, một nụ cười cảm thông. Đặc biệt trên lĩnh vực tinh thần, điều kiện không thể thiếu để sự hình thành và phát triển của Nguyên Phong (Phật Ân) một phần nhờ các bậc Thiện hữu tri thức trực tiếp hay gián tiếp hỗ trợ qua nhiều hình thức.
Tự bản thân Nguyên Phong (Phật Ân) không vận động, không giới thiệu, Nguyên Phong (Phật Ân) cố gắng và cố gắng trường kỳ sống theo tinh thần lục hòa, bình đẳng với cả trong ngoài, trên dưới, xa gần. Tuy thế, mọi sai sót khó tránh khỏi mong được xem là sự vô tình ngoài tâm ý.